Tin tức

quy che 1

Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn vừa ban hành Quyết định số 438/QĐ-CĐVH ngày 15/05/2018 V/v quy chế Kiểm tra, thi . Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký. Áp dụng từ học kỳ 2 năm học 2017 – 2018 đối với các khóa tuyển sinh từ năm 2017.

Theo đó, Quy chế gồm 03 Chương, 17 Điều quy định cụ thể về đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh.

Tổ chức kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ và thi kết thúc môn học, mô-đun

1.Tổ chức kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ

  1. Kiểm tra thường xuyên không quy định trong chương trình môn học, mô-đun do giảng viên giảng dạy môn học, mô-đun thực hiện trong quá trình học theo từng môn học, mô-đun thông qua việc kiểm tra vấn đáp trong giờ học, kiểm tra viết với thời gian làm bài bằng hoặc dưới 30 phút, kiểm tra một số nội dung thực hành, thực tập, chấm điểm bài tập và các hình thức kiểm tra, đánh giá khác;
  2. Kiểm tra định kỳ được quy định trong chương trình môn học, mô-đun; kiểm tra định kỳ có thể bằng hình thức kiểm tra viết từ 45 đến 60 phút, làm bài thực hành từ 60 đến 120 phút, chấm điểm bài tập lớn, tiểu luận, thực tập và các hình thức kiểm tra, đánh giá khác;
  3. Số lượng bài kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ được xác định tùy theo số tín chỉ của môn học, mô-đun cụ thể như sau:

– Đồi với trình độ đào tạo cao đẳng:

+ Môn học, mô-đun có 1 tín chỉ: Có 1 bài kiểm tra thường xuyên và 1 bài kiểm tra định kỳ;

+ Môn học, mô-đun có 2 tín chỉ: Có 1 bài kiểm tra thường xuyên và 2 bài kiểm tra định kỳ;

+ Môn học, mô-đun có 3 tín chỉ: Có 1 bài kiểm tra thường xuyên và 3 bài kiểm tra định kỳ;

+ Môn học, mô-đun có từ 4 tín chỉ trở lên: Có 1 bài kiểm tra thường xuyên và 4 bài kiểm tra định kỳ.

– Đối với trình độ đào tạo trung cấp: Bắt buộc phải có 1 bài kiểm tra thường xuyên; số bài kiểm tra định kỳ tùy theo yêu cầu môn học/mô-đun, giảng viên xác định số bài kiểm tra định kỳ phù hợp (có ít nhất một bài kiểm tra định kỳ) và quy định rõ trong chương trình môn học, mô-đun.

2.Tổ chức thi kết thúc môn học, mô-đun

  1. Cuối mỗi học kỳ, Nhà trường tổ chức một kỳ thi chính và một kỳ thi phụ để thi kết thúc môn học, mô-đun; kỳ thi phụ được tổ chức cho người học chưa dự thi kết thúc môn học, mô-đun hoặc môn học, mô-đun có điểm chưa đạt yêu cầu ở kỳ thi chính; ngoài ra, Nhà trường có thể tổ chức thi kết thúc môn học, mô-đun vào thời điểm khác cho người học đủ điều kiện dự thi;
  2. Hình thức thi kết thúc môn học, mô-đun có thể là thi viết, vấn đáp, trắc nghiệm, thực hành, bài tập lớn, tiểu luận, bảo vệ kết quả thực tập theo chuyên đề hoặc kết hợp giữa các hình thức trên đảm bảo không quá 2 hình thức cho mỗi môn học, mô-đun. Đối với môn học, mô-đun có 2 hình thức thi, trọng số điểm đánh giá được quy định 50/50 cho mỗi hình thức thi;
  3. Thời gian làm bài thi kết thúc môn học, mô-đun đối với mỗi bài thi viết từ 60 đến 120 phút, thời gian làm bài thực hành từ 90 đến 240 phút, thời gian làm bài trắc nghiệm từ 50 đến 60 phút, thời gian làm bài vấn đáp từ 10 đến 20 phút chuẩn bị và 10 phút trả lời, đối với các hình thức thi khác hoặc thời gian làm bài thi của môn học, mô-đun có tính đặc thù của ngành, nghề đào tạo do Hiệu trưởng quyết định và ghi rõ trong chương trình môn học, mô-đun;
  4. Lịch thi cần được tối ưu hóa cho từng ngành học dựa trên các yêu cầu sau: trải đều các môn thi trong suốt thời gian thi, xen kẽ các môn lý thuyết – thực hành, mỗi buổi thi một người học thi không quá 2 môn học, mô-đun, thời gian chuyển tiếp giữa 2 môn thi tối thiểu là 30 phút;
  5. Thời gian dành cho ôn thi mỗi môn học, mô-đun tỷ lệ thuận với số giờ của môn học, mô-đun đó và bảo đảm ít nhất là 1/2 ngày ôn thi cho 15 giờ học lý thuyết trên lớp, 30 giờ học thực hành, thực tập; tất cả các môn học, mô-đun phải bố trí giảng viên hướng dẫn ôn thi, chương trình ôn thi phải được công bố cho người học ngay khi bắt đầu tổ chức ôn thi;
  6. Trong trường hợp cần thiết, có thể xếp thi buổi tối hoặc ngày thứ bảy, chủ nhật (với các lớp bình thường học ban ngày);
  7. Chỉ những môn học, mô-đun có tổ chức học trong học kỳ mới xếp lịch thi cuối học kỳ;
  8. Các môn học, mô-đun cùng mã số nhất thiết phải xếp thi cùng một thời gian, cùng 1 đề thi. Trong trường hợp do khác hệ đào tạo và học khác buổi hoặc lý do bất khả kháng (số lượng phòng không đủ để tổ chức cùng ca thi) mà phải xếp khác buổi thi của môn đó thì phải có đề thi khác;
  9. Hình thức thi, thời gian làm bài, điều kiện thi kết thúc môn học, mô-đun phải được quy định trong chương trình môn học, mô-đun.

Điều kiện và số lần dự thi kết thúc môn học, mô-đun

  1. Điều kiện dự thi kết thúc môn học, mô-đun

Người học được dự thi kết thúc môn học, mô-đun khi bảo đảm các điều kiện sau:

  • Tham dự ít nhất 70% thời gian học lý thuyết và đầy đủ các bài học tích hợp, bài học thực hành, thực tập và các yêu cầu của môn học, mô-đun được quy định trong chương trình môn học, mô-đun;
  • Điểm trung bình chung các điểm kiểm tra đạt từ 5,0 điểm trở lên theo thang điểm 10;
  • Còn số lần dự thi kết thúc môn học, mô-đun theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Người học có giấy xác nhận khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật thì được Hiệu trưởng xem xét, quyết định ưu tiên điều kiện dự thi trên cơ sở người học đó phải bảo đảm điều kiện về điểm trung bình các điểm kiểm tra.

  1. Số lần dự thi kết thúc môn học, mô-đun
  • Người học được dự thi kết thúc môn học, mô-đun lần thứ nhất, nếu điểm môn học, mô-đun chưa đạt yêu cầu thì được dự thi thêm một lần nữa ở kỳ thi khác do trường tổ chức;
  • Người học vắng mặt ở lần thi nào mà không có lý do chính đáng thì vẫn tính số lần dự thi đó và phải nhận điểm 0. Người học vắng mặt có lý do chính đáng (có xác nhận hợp pháp) làm đơn gửi Trung tâm xem xét và cho dự thi ở kỳ thi khác trong vòng 1 tuần kể từ ngày thi môn học, mô-đun.

Cách tính điểm môn học, mô-đun, điểm trung bình chung học kỳ/năm học/khóa học và điểm trung bình chung tích lũy

  1. Điểm môn học, mô-đun
    1. Điểm môn học, mô-đun bao gồm điểm trung bình các điểm kiểm tra có trọng số 0,4 và điểm thi kết thúc môn học, mô-đun có trọng số 0,6;
    2. Điểm trung bình điểm kiểm tra là trung bình cộng của các điểm kiểm tra thường xuyên, điểm kiểm tra định kỳ theo hệ số của từng loại điểm. Trong đó: Điểm kiểm tra thường xuyên tính hệ số 1, điểm kiểm tra định kỳ tính hệ số 2;
    3. Điểm môn học, mô-đun đạt yêu cầu khi có điểm theo thang điểm 10 đạt từ 4,0 điểm trở lên.
  2. Điểm trung bình chung học kỳ, năm học, điểm trung bình chung tích lũy để xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ, năm học hoặc khóa học được tính theo kết quả điểm thi kết thúc môn học, mô-đun lần thứ nhất; để xét điều chỉnh tiến độ học, buộc thôi học được tính theo kết quả lần thi kết thúc môn học, mô-đun có điểm cao nhất.
  3. Môn học Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng và an ninh là 2 môn học điều kiện; kết quả đánh giá 2 môn học này không tính vào điểm trung bình chung học kỳ, năm học, điểm trung bình chung tích lũy, xếp loại tốt nghiệp nhưng là một trong các điều kiện để xét hoàn thành khối lượng học tập và được ghi vào bảng điểm cấp kèm theo bằng tốt nghiệp.
  4. Quy đổi điểm môn học, mô-đun: Điểm môn học, mô-đun được tính theo khoản 1 Điều 10 của quy chế này theo thang điểm 10 sau khi làm tròn đến một chữ số thập phân sẽ được chuyển thành điểm chữ như sau:
Xếp loại Thang điểm 10 Thang điểm 4
Điểm chữ Điểm số
Đạt

(được tích lũy)

Giỏi từ 8,5 đến 10,0 A 4,0
Khá từ 7,0 đến 8,4 B 3,0
Trung bình từ 5,5 đến 6,9 C 2,0
Trung bình yếu từ 4,0 đến 5,4 D 1,0
Không đạt (không được tích luỹ)

 

 

Kém dưới 4,0 F 0

5. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy, mức điểm chữ của môn học, mô-đun phải được quy đổi từ điểm chữ qua điểm số thang điểm 4.

18 May 0 Bình luận
Thong tu

Bộ LĐ-TB&XH vừa ban hành Thông tư 28/2017/TT-BLĐTBXH quy định hệ thống bảo đảm chất lượng của cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2018.

Theo đó, Thông tư gồm 03 Chương, 24 Điều quy định cụ thể về phạm vi, đối tượng áp dụng; nguyên tắc, yêu cầu và các nội dung cụ thể triển khai Hệ thống bảo đảm chất lượng của cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Thông tư quy định 2 nhóm hoạt động chính: Xây dựng, vận hành, đánh giá và cải tiến hệ thống bảo đảm chất lượng; Tự đánh giá chất lượng giáo dục nghề nghiệp.

Với công tác xây dựng, vận hành, đánh giá và cải tiến hệ thống bảo đảm chất lượng, Thông tư quy định cụ thể về: quy trình xây dựng, vận hành, đánh giá và cải tiến hệ thống bảo đảm chất lượng; công tác chuẩn bị; tổ chức và nhân sự bảo đảm chất lượng; xây dựng hệ thống tài liệu bảo đảm chất lượng; thiết lập hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng; phê duyệt và vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng; đánh giá, cải tiến hệ thống bảo đảm chất lượng; thực hiện cải tiến; thực hiện chế độ báo cáo cơ quan quản lý có thẩm quyền.

Với công tác tự đánh giá chất lượng giáo dục nghề nghiệp, Thông tư quy định cụ thể về nội dung và chu kỳ tự đánh giá chất lượng; yêu cầu tự đánh giá chất lượng; quy trình tự đánh giá chất lượng; thành lập Hội đồng tự đánh giá chất lượng; thực hiện tự đánh giá chất lượng; thông qua và phê duyệt báo cáo tự đánh giá chất lượng; công bố báo cáo tự đánh giá chất lượng và gửi cơ quan có thẩm quyền.

Điểm mới của Thông tư yêu cầu các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải xây dựng hệ thống thông tin quản lý. Hệ thống thông tin đảm bảo chất lượng gồm cơ sở dữ liệu đảm bảo chất lượng và hạ tầng thông tin.

Nguyên tắc xây dựng hệ thống thông tin đảm bảo chất lượng là cơ sở dữ liệu mở, có khả năng mở rộng, cập nhật khi cần thiết, ứng dụng công nghệ thông tin và bảo đảm kết nối với hệ thống thông tin quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp các cấp. Đây là hành lang pháp lý để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong bảo đảm chất lượng, quy định việc thiết lập hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng và kết nối cơ sở dữ liệu của cơ sở giáo dục nghề nghiệp với hệ thống thông tin quản lý của cơ quan quản lý nhà nước.

Ngoài ra, Thông tư còn quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai Hệ thống bảo đảm chất lượng của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.  

Toàn bộ thông tư tại đây

Văn bản về ĐBCL

2 May 0 Bình luận
TESTING

120 câu hỏi được xây dựng theo định hướng đánh giá năng lực cần thiết để học đại học, không chú trọng đánh giá kiến thức.

Theo đó bài thi đánh giá năng lực của ĐHQG TP.HCM được xây dựng với cùng cách tiếp cận như bài thi SAT (Scholastic Assessment Test) của Mỹ và bài thi TSA (Thinking Skills Assessment) của Anh.

Cụ thể, đây đều là các bài thi chuẩn hóa nhằm xét tuyển đầu vào học đại học. Các bài thi đều nhắm vào việc đánh giá năng lực học đại học của thí sinh thông qua việc kiểm tra các kỹ năng liên quan đến đọc, hiểu, tư duy, phân tích và giải quyết vấn đề chứ không đơn thuần đánh giá về mặt nhớ kiến thức.

Các câu hỏi trong bài thi được xây dựng theo hướng cung cấp số liệu/dữ kiện, hạn chế yêu cầu nhớ kiến thức. Đề thi gồm 120 câu trắc nghiệm có 4 phương án lựa chọn trong đó có 1 phương án đúng duy nhất, gồm 03 phần: sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh; Toán học, tư duy logic và phân tích số liệu; Giải quyết vấn đề. Thời gian làm bài là 150 phút.

Kết quả bài thi được xác định theo phương pháp trắc nghiệm hiện đại. Điểm bài thi được xác định bằng lý thuyết đáp ứng câu hỏi – IRT (Item Response Theory). Các câu hỏi có độ khó, độ phân biệt khác nhau sẽ có đóng góp khác nhau vào tổng điểm. Tổng điểm tối đa của bài thi là 1.200 điểm.

Toàn bộ bài thi mẫu tại đây.

20 April 0 Bình luận
Nghi dinh

Ngày 30/3/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 49/2018/NĐ-CP quy định về kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp. 

Phạm vi điều chỉnh của Nghị định quy định về:

  • Điều kiện, thủ tục, thẩm quyền cấp, cấp lại, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; đình chỉ hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp;
  • Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm định viên chất lượng giáo dục nghề nghiệp; cấp, cấp lại, thu hồi thẻ kiểm định viên chất lượng giáo dục nghề nghiệp;
  • Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp.

Trong thời gian tới, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ tiếp tục xây dựng, ban hành “Thông tư quy định về quy chế đánh giá cấp thẻ kiểm định viên chất lượng giáo dục nghề nghiệp; quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp”, hướng dẫn đánh giá tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ giáo dục nghề nghiệp. Bộ sẽ ưu tiên đẩy mạnh hợp tác quốc tế về kiểm định chất lượng, đồng thời tranh thủ các nguồn lực trong nước và nước ngoài để đến năm 2020, 2030:

– Hình thành mạng lưới các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp;

– Phát triển đội ngũ kiểm định viên chất lượng giáo dục nghề nghiệp có đủ trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn tới.

– Nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý các cấp, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; xây dựng và vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

–  Kiểm định và công bố công khai kết quả kiểm định chất lượng với mục tiêu dự kiến cụ thể như sau:

+ Đến năm 2020 cho 100% trường trong danh sách được ưu tiên đầu tư tập trung để trở thành trường chất lượng cao,  50% trường cao đẳng, 30% trường trung cấp, 10% trung tâm giáo dục nghề nghiệp, 60% chương trình đào tạo các ngành, nghề trọng điểm,

+ Đến 2030 cho 100% trường trong danh sách được ưu tiên đầu tư tập trung để trở thành trường chất lượng cao, 100% trường cao đẳng, 100% trường trung cấp, 70% trung tâm giáo dục nghề nghiệp, 90% chương trình đào tạo các ngành, nghề trọng điểm.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2018./.

Toàn bộ nghị định tại đây

Văn bản về ĐBCL

Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng

18 April 0 Bình luận
British council

(Dân sinh) Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp vừa phối hợp với Hội đồng Anh Việt Nam tổ chức Hội thảo sơ kết chương trình hợp tác giữa Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp và Hội đồng Anh Việt Nam về xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng tại một số trường cao đẳng.

 

Tham dự Hội thảo về phía Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp có PGS. TS Cao Văn Sâm, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp; TS. Phạm Vũ Quốc Bình, Cục trưởng Cục Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Về phía Hội đồng Anh Việt Nam có bà Hoàng Vân Anh, Giám đốc các chương trình giáo dục. Tham dự Hội thảo còn có đại diện Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang, các Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và cán bộ phụ trách công tác đảm bảo chất lượng của 21 trường tham gia chương trình hợp tác và một số trường cao đẳng khác…

 

Xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục nghề nghiệp - Ảnh 1PGS. TS Cao Văn Sâm, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo

 

Theo ThS. Trần Thị Thu Hà, Phó Cục trưởng Cục Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp đã báo cáo sơ kết chương trình hợp tác giữa Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp và Hội đồng Anh Việt Nam về xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng tại một số trường cao đẳng. Theo báo cáo sơ kết, sau hơn 2 năm triển khai chương trình hợp tác giữa 21 trường của Việt Nam hợp tác với 6 trường đối tác của Vương quốc Anh, hệ thống đảm bảo chất lượng của các trường Việt Nam tham gia dự án từng bước được hoàn thiện, các trường đã lồng ghép các công cụ đảm bảo chất lượng được chuyển giao từ trường đối tác vào hoạt động của nhà trường, bước đầu đã phát huy hiệu quả nhất định, góp phần nâng cao năng lực quản lý, quản trị của nhà trường.

Đại diện một số cụm trường báo cáo, đánh giá kết quả hợp tác của cụm trường, chia sẻ kinh nghiệm và kết quả xây dựng và áp dụng các công cụ đảm bảo chất lượng của trường với các trường khác. Đồng thời, Hội thảo đã thảo luận thống nhất chương trình, chuẩn bị nội dung để tổ chức Hội thảo tổng kết chương trình hợp tác. Cũng tại hội thảo này, các cụm trường tham gia chương trình hợp tác đã tham gia ký Biên bản cam kết về việc hợp tác, hỗ trợ và chia sẻ kinh nghiệm giữa 6 cụm trường về xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng, với sự chứng kiến của đại diện Lãnh đạo Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp và Hội đồng Anh Việt Nam. Qua đó, các cụm trường cam kết: Chia sẻ kinh nghiệm triển khai chương trình hợp tác giữa các cụm trường; Sẵn sàng hợp tác, hỗ trợ các trường thuộc chương trình hợp tác phát triển các công cụ đảm bảo chất lượng; Chuyển giao sản phẩm giữa các cụm trường để tham khảo áp dụng.

Tại Hội thảo Cục trưởng Cục Kiểm định chất lượng Giáo dục nghề nghiệp Phạm Vũ Quốc Bình đã trao tài liệu đã được số hóa thông qua đĩa DVD cho đại điện các trường cao đẳng khác trong hệ thống. Nội dung đĩa DVD chính là các công cụ đảm bảo chất lượng của 9 trường tham gia chương trình Hợp tác giai đoạn 1 được biên tập dưới dạng tài liệu điện tử giúp các trường tham khảo, vận dụng. Tài liệu này cũng đã được đăng tải trên website của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp và của Cục Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp.

Xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục nghề nghiệp - Ảnh 2Ký biên bản cam kết về việc hợp tác, hỗ trợ và chia sẻ kinh nghiệm giữa các cụm trường với sự chứng kiến của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp và Hội đồng Anh Việt Nam về xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng

PGS.TS Cao Văn Sâm, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp đánh giá cao kết quả chương trình hợp tác đã đạt được trong thời gian qua, đồng thời Phó Tổng cục trưởng yêu cầu Cục Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp: Chỉ đạo các trường tham gia chương trình hợp tác hoàn thiện các bộ công cụ đảm bảo chất lượng, khuyến khích các trường tham gia vào “sân chơi” quốc tế, tham gia đánh giá theo tiêu chuẩn của các nước tiên tiến trên thế giới, hướng tới công nhận lẫn nhau về chất lượng.

Nhân rộng mô hình xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng tới các trường khác trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Đối với các trường tham gia chương trình hợp tác cần:  Biến kết quả của các dự án hợp tác vào việc nâng cao năng lực quản lý/ quản trị nhà trường bằng những hoạt động cụ thể; Tăng cường liên kết đào tạo theo tiêu chuẩn nghề của Anh quốc và được công nhận lẫn nhau về chất lượng.

 Lãnh đạo các trường phải tổ chức nhân rộng việc áp dụng các công cụ đảm bảo chất lượng trong toàn trường. Qua Hội thảo này, Phó Tổng cục trưởng cũng mong muốn Hội đồng Ạnh tiếp tục hợp tác với Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp trong nhiều lĩnh vực trong đó có đánh giá kỹ năng nghề và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng.

PHƯƠNG MINH

16 September 0 Bình luận
VSTEP

(VietNamNet) – Bộ GD-ĐT vừa có văn bản yêu cầu tạm dừng tổ chức thi cấp chứng chỉ Năng lực ngoại ngữ ngoài nhà trường cho các đối tượng không phải là giáo viên dạy ngoại ngữ cho đến khi Bộ có quy định cụ thể về việc này.

Yêu cầu này xuất phát từ kết luận thanh tra về việc ôn tập, thi, đánh giá năng lực ngoại ngữ tổ chức tại Trường CĐ Công nghệ Bắc Hà (Từ Sơn, Bắc Ninh) của Chánh Thanh tra Bộ GD-ĐT ngày 20/6/2017. Kết luận đã làm rõ một số hạn chế, thiếu sót, sai phạm về việc ôn tập, thi đánh giá năng lực ngoại ngữ tổ chức tại Trường CĐ Công nghệ Bắc Hà và một số đơn vị liên quan.

Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, khung năng lực ngoại ngữ, Đề án Ngoại ngữ 2020
Tạm dừng tổ chức thi cấp chứng chỉ Năng lực ngoại ngữ ngoài nhà trường cho các đối tượng không phải là giáo viên dạy ngoại ngữ. Ảnh minh họa.

Trên cơ sở kiến nghị của Chánh Thanh tra, Bộ GD-ĐT giao các đơn vị thực hiện nghiêm nội dung kiến nghị nêu trong kết luận thanh tra.

Theo đó, yêu cầu Cục Quản lý chất lượng, tham mưu, hoàn thiện và trình Bộ trưởng ban hành Quy chế thi đánh giá năng lực ngoại ngữ theo khung Năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam theo hướng quy định rõ điều kiện, tiêu chuẩn đối với đơn vị tổ chức thi, đảm bảo chất lượng và có thể kiểm chứng khi cần thiết, tránh độc quyền.

Phối hợp hướng dẫn cụ thể việc tổ chức ôn tập, hướng dẫn việc tổ chức thi đánh giá theo khung Năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam đối với các đối tượng ngoài Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020.

Đối với Ban quản lý Đề án ngoại ngữ 2020, Bộ GD-ĐT yêu cầu rà soát tổng thể 10 đơn vị được giao tổ chức đánh giá năng lực ngoại ngữ trong và ngoài nhà trường trong vòng 3 năm qua, tổ chức sơ kết, đánh giá kịp thời để chấn chỉnh, nâng cao chất lượng bồi dưỡng.

Với Trường ĐH Ngoại ngữ – ĐHQG Hà Nội, Trường ĐH Hà Nội, Trường ĐH Ngoại ngữ – ĐH Đà Nẵng, Trường ĐH Ngoại ngữ – ĐH Huế, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, Trường ĐH Cần Thơ, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, Trung tâm Semeo Retrac, Trường ĐH Vinh, ĐH Thái Nguyên: tạm dừng việc tổ chức thi, cấp chứng chỉ năng lực ngoại ngữ ngoài nhà trường cho các đối tượng không phải là giáo viên dạy ngoại ngữ cho đến khi Bộ có quy định cụ thể về việc này.

Thanh Hùng

22 August 0 Bình luận
reading
GD&TĐ – Cô Nguyễn Thị Hồng Minh – giáo viên Trường THPT Tuy Phước số 1 (Bình Định) – chia sẻ kinh nghiệm làm bài thi phần đọc hiểu và cách sắp xếp supporting sentences (câu bổ nghĩa) trong một đoạn văn một tiếng Anh.

Kinh nghiệm làm bài thi đọc hiểu

Bài tập đọc hiểu nhằm kiểm tra khả năng đọc bằng mắt lấy thông tin để lựa chọn phương án đúng cho các câu hỏi về bài đọc đó. Có những yêu cầu lấy thông tin chính (main idea), lấy thông tin chi tiết (details).

Thông thường các câu hỏi yêu cầu thí sinh chọn đúng thông tin về dữ liệu và số liệu (fact and data) có trong bài cũng có thể có nhưng câu hỏi khó hơn, yêu cầu học sinh phải hiểu được ẩn ý (implied idea) hoặc ý kiến, quan điểm  (opinion)của tác giả đối với vấn đề được nêu ra trong bài đọc.

Có nhiều quan điểm khác nhau về cách làm bài, sau đây là một số gợi ý:

Đọc nhanh một lượt từ đầu đến cuối. Mục đích của lần đọc này là nắm được chủ đè của bài viết và nội dung sơ lược của nó. Trong khi đọc, bỏ qua từ mới, thậm chí không hiểu một câu nào.

Đọc kỹ cẩu hỏi và tất cả các phương án A, B, C, D, sau đó xác định xem chỗ nào trong bài đọc có thông tin giúp lựa chọn phương án đúng nhất.

Khi lựa chọn câu trả lời, luôn luôn kiểm tra lại bước 2 đẻ đảm bảo chắc chắn là đã xác định đúng chỗ có thông tin cho câu hỏi mình đang trả lời.

Để chọn phườn án trả lời đúng nhất, trước hết nên loại bỏ phương án chắc chắn sai (về số liệu, dữ liệu…) phương án không có thông tin trong bài đọc, phương án chỉ đúng một phần để còn lại phương án cuối cùng là đúng nhất.

Cần phân tinchs thật kỹ tất cả các phương án mà người ra đề đưa ra, vì phương án trả lời đúng nhất có khi chỉ khác một từ so với các phương án còn lại.

Khi đưa ra quyết định lựa chọn phương án đúng nhất không nên sử dụng kiên thức của mình về vấn đề được bàn tới ( hoặc kiến thức không được nêu trong bài đọc ). Phương án đúng nhất là phương án trả lời chính xác nhất dựa vào thông tin có trong bài đọc.

Với sự thay đổi của cấu trúc đề thi môn Tiếng anh, khuyên học sinh cần nắm chắc kiến thức đã học. Học ngoại ngữ theo cách “ mưa dầm thấm lâu ”mỗi ngày rèn luyện và tích lũy một chút. Học ngoại ngữ trên cơ sở rèn luyện 4 kỹ năng “nghe – nói – đọc –viết”, đồng thời làm nhiều bài tập cơ bản đến nâng cao,nắm vững một số tình huống giao tiếp từ những tình huống của cuộc song hằng ngày như:

– Cách hỏi đường

– Cách đáp lại một lời khen cho đến những tình huống phức tạp hơn.

Lưu ý: Cách sắp xếp supporting sentences trong một đoạn văn

Tùy theo đề bài, người viết có thể sắp xếp supporing sentences theo 1 trong các trật tự dưới đây:

Từ các chi tiết quan trọng nhất đến ít quan trọng nhất.

Từ các chi tiết ít quan trọng nhất đến chi tiết quan trọng nhất (ngược với cách 1).

Theo trật tự thời gian (cái gì xảy ra trước kể trước, cái gì xảy ra sau kể sau).

Theo trình tự của công việc phải làm (ví dụ như bạn đang hướng dẫn người khác nấu cơm thì bạn sẽ chỉ họ làm theo các bước: Thứ nhất, lấy gạo bỏ vào nồi. Thứ hai, vo gạo. Thứ ba, bỏ nồi vào nồi cơm điện (nếu nấu bằng nồi cơm điện). Thứ tư, cắm phích vào ổ điện. Thứ năm, bật công tắc nấu. Cuối cùng, chờ khoảng 20 đến 25 phút thì cơm chín.

Theo trình tự không gian. Thường trật tự này chỉ được áp dụng trong một đoạn văn tả quang cảnh/nơi chốn. Ví dụ như đề bài yêu cầu bạn tả góc học tập của mình.

Trường hợp này bạn có thể bắt đầu từ bất kể vị trí nào: từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài, từ trái sang phải, từ phải sang trái, từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới…tùy theo góc độ mà bạn quan sát để mô tả.

Cuối cùng, bạn có thể kết thúc đoạn văn bằng một câu kết (concluding sentence). Thông thường câu kết được thực hiện bằng cách viết lại câu chủ đề theo một dạng khác mà thôi.

Nguyễn Thị Hồng Minh

26 July 0 Bình luận
KDCLGD

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 15/2017/TT-BLĐTBXH​ Quy định tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 24/7/2017.

Thông tư này được áp dụng đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình độ cao đẳng, doanh nghiệp có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp và các đơn vị, cá nhân có liên quan.

Theo quy định, có 9 tiêu chí, điểm chuẩn đánh giá chất lượng Trường trung cấp và cao đẳng, tổng điểm đánh giá là 100 điểm:

Tiêu chí Điểm chuẩn
Tiêu chí 1 – Mục tiêu, sứ mạng, tổ chức và quản lý 12
Tiêu chí 2 – Hoạt động đào tạo 17
Tiêu chí 3 – Nhà giáo, cán bộ quản lý, viên chức và người lao động 15
Tiêu chí 4 – Chương trình, giáo trình 15
Tiêu chí 5 – Cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo 15
Tiêu chí 6 – Nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế 5
Tiêu chí 7 – Quản lý tài chính 6
Tiêu chí 8 – Dịch vụ người học 9
Tiêu chí 9 – Giám sát – đánh giá chất lượng 6
Tổng số 100

Điểm đánh giá cho mỗi tiêu chuẩn đạt yêu cầu là 1 điểm, tiêu chuẩn không đạt yêu cầu là 0 điểm. Tiêu chuẩn đạt yêu cầu được xác định trên cơ sở trường đáp ứng tiêu chuẩn và duy trì ít nhất trong 02 năm liên tục tính đến thời điểm đánh giá đối với trường trung cấp và duy trì ít nhất trong 03 năm liên tục tính đến thời điểm đánh giá đối với trường cao đẳng.

Chương trình đào tạo trình độ trung cấp và cao đẳng cũng có 7 tiêu chí đánh giá gồm: Tiêu chí 1 – Mục tiêu, quản lý và tài chính; tiêu chí 2 – Hoạt động đào tạo; tiêu chí 3 – Nhà giáo, cán bộ quản lý và nhân viên; tiêu chí 4 – Chương trình, giáo trình; tiêu chí 5 – Cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo và thư viện; tiêu chí 6 – Dịch vụ cho người học; tiêu chí 7 – Giám sát, đánh giá chất lượng.

Điểm đánh giá cho mỗi tiêu chuẩn đạt yêu cầu là 2 điểm, tiêu chuẩn không đạt yêu cầu là 0 điểm.

Tiêu chuẩn đạt yêu cầu khi cơ sở đào tạo đáp ứng tiêu chuẩn trong 02 năm liên tục tính đến thời điểm đánh giá đối với chương trình đào tạo trình độ trung cấp và trong 03 năm liên tục tính đến thời điểm đánh giá đối với chương trình đào tạo trình độ cao đẳng.

Việc đánh giá mức độ một chương trình đào tạo cụ thể tại một cơ sở đào tạo đáp ứng hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn chỉ áp dụng đối với các yếu tố, nội dung liên quan đến việc thực hiện chương trình đào tạo.

Xem chi tiết thông tư

Văn bản về ĐBCL

TRUNG TÂM KHẢO THÍ VÀ ĐBCL

19 June 0 Bình luận
Khao sat

TTO – “Bạn cảm thấy như thế nào khi làm việc với phòng công tác sinh viên?”, đó là câu hỏi khảo sát trên màn hình cảm ứng đặt trước phòng công tác sinh viên của Trường ĐH Công nghệ thông tin – ĐHQG TP.HCM. 

Trường đại học đặt máy khảo sát mức độ hài lòng sinh viên
Sinh viên bày tỏ mức độ hài lòng và góp ý cho phòng công tác sinh viên Trường ĐH Công nghệ thông tin (ĐHQG TP.HCM) – Ảnh: TƯỜNG HÂN

Hệ thống này giúp nhà trường thay đổi cách lắng nghe sinh viên. Để trả lời câu hỏi trên, sinh viên chọn một trong năm biểu tượng cảm xúc: cực kỳ thất vọng, buồn, bình thường, vui và cực kỳ hài lòng.

Máy cũng đề nghị sinh viên để lại vài dòng góp ý cụ thể. Ở mức độ dùng thử, trường chưa đặt mua công cụ đánh giá, nên dữ liệu thu thập từ máy chỉ được tổng hợp dưới dạng file Excel và gửi về máy tính do trưởng phòng công tác sinh viên quản lý.

Đây là công nghệ của một công ty startup, do các cựu học sinh Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong sáng lập cùng nhóm kỹ sư người Mỹ và Việt Nam, phát triển tại Mỹ với tên gọi ConfiguRate (phần mềm đánh giá nhanh).

“Mỗi máy khảo sát là một máy tính bảng kết hợp camera hoạt động 24/24 giờ, hệ thống máy giúp thống kê dữ liệu và đưa ra khuyến nghị.

Hệ thống có nhiệm vụ chuyển thông tin và góp ý của sinh viên thành dữ liệu đám mây, tổ chức quản lý có thể xem thông tin ngay tức thời” – chị Trần Thị Kiều Oanh, 
đại diện công ty, cho biết.

“Tùy nhu cầu, đơn vị sử dụng máy có thể đặt nhiều loại câu hỏi khác nhau. Máy khảo sát mức độ hài lòng trực tiếp từ sinh viên tạo hứng thú cho các bạn khi đến phòng công tác sinh viên và khuyến khích tinh thần học hỏi, sáng tạo, khởi nghiệp của các bạn” – ông Nguyễn Văn Toàn, trưởng phòng công tác sinh 
viên, cho biết.

TƯỜNG HÂN (TUOITRE.VN)

18 June 0 Bình luận
News Tin tuc

VietNamNet – Cơ quan chức năng cảnh báo trước kỳ thi THPT quốc gia 2017, có hai thiết bị công nghệ cao để gian lận thi cử phổ biến là máy tính bỏ túi và đồng hồ. Ngoài ra, các giám thị cũng phải chú ý đến cả những thiết bị khác từ nhẫn, kính thí sinh đeo.

Thiết bị gian lận "đội lốt" đồng hồ, máy tính bỏ túi

Đại tá Nguyễn Bạch Đằng, Cục An ninh chính trị nội bộ (Bộ Công an) lưu ý như vậy trong chuyến kiểm tra thi cùng đoàn công tác của Bộ GD&-ĐT tại hai địa phương Hải Phòng và Quảng Ninh vừa qua.

Theo Đại tá Đằng, với máy tính bỏ túi, các giám thị phải kiểm tra xem có đúng chức năng của máy tính không. Vì nhiều khi vỏ là máy tính nhưng ruột là điện thoại Iphone. Nên có thể chụp ảnh toàn bộ đề thi ra ngoài, đồng thời nhận được lời giải từ ngoài gửi vào.

thi THPT quốc gia,thi trung học phổ thông quốc gia,gian lận thi cử
Kiểm tra thi THPT quốc gia 2017 tại Trường THPT An Hải (Hải Phòng). Ảnh: Tú Lệ

Thứ hai là đồng hồ. Vì có trường hợp dán mặt đồng hồ còn thực chất là điện thoại, tai nghe của những đồng hồ này chỉ bằng hạt gạo đặt vào trong tai.  

"Khi vào phòng thi, giám thị coi thi cần kiểm tra một lượt máy tính bỏ túi và đồng hồ đeo tay của thí sinh xem là “hàng thật” hay “hàng đội lốt”. Chỉ cần bấm qua một số nút trên máy tính là có thể phát hiện được điều này. Chúng tôi cũng từng phát hiện những chiếc đồng hồ được dán mặt hình đồng hồ như thật nhưng thực chất là một chiếc điện thoại rất hiện đại” – Đại tá Đằng chia sẻ thực tế.

Còn Đại tá Vũ Đức Thành, PA83 Công an thành phố Hải Phòng cũng cho biết thêm hiện có loại ống nhòm mới có thể nhìn xa cách mục tiêu 2km,  sau đó phóng lên rồi chụp bằng điện thoại. 

Do đó, nguy cơ lộ đề thi rất có thể xẩy ra từ cách xa điểm thi tới 2km. Vì vậy, đại tá Thành yêu cầu tất cả các điểm thi có tiếp xúc với nhà dân phải đóng cửa sổ. Giám thị phải chú ý đến các biểu hiện của thí sinh trong phòng thi.

Ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng giáo dục (Bộ GD-ĐT), nhấn mạnh đến vấn đề đảm bảo an ninh, an toàn cho các điểm thi. 

“Cán bộ giám sát phải giám sát cả mặt sau của mỗi phòng thi. Có che chắn với khu vực tiếp giáp với nhà dân. Những điểm xung yếu cần bổ sung thêm lực lượng an ninh cắm chốt".

Trước đề nghị của ông Trinh, Thượng tá Nguyễn Bá Bính, phó giám đốc công an tỉnh Quảng Ninh đã yêu cầu ngành giáo dục của tỉnh rà soát một lần nữa tất cả các điểm thi có được con số cụ thể, chính xác để công an bố trí lực lượng.

Trong khi đó, ông Nguyễn Sơn Hải, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin (Bộ GD-ĐT) cho biết Bộ đã hướng dẫn danh sách máy tính cầm tay được mang vào phòng thi. Theo ông Hải, khó khăn là làm sao giám thị có năng lực để phát hiện hành vi sử dụng công nghệ cao.

Ông Nguyễn Xuân Trường, Giám đốc Sở GD-ĐT Hải Phòng chia sẻ kinh nghiệm của Hải Phòng: Khi vào làm thi, PA83 dùng nghiệp vụ để kiểm soát, xem xét nghiêm hơn cả hành khách lên máy bay. Điện thoại của các thành viên thuộc ban in sao đề thi đều được niêm phong bên ngoài.

"Phá sóng tại các điểm thi rất khó. Chúng tôi hạn chế tối đa bằng biện pháp là kiểm soát con người. Từ in sao đề cho tới làm phách. Tuy nhiên, lo lắng nhất hiện nay của chúng tôi là công nghệ hiện đại”.

Gọi điện thoại đôn đốc thí sinh những ngày thi

Theo bà Vũ Liên Oanh, Giám đốc Sở GD-ĐT Quảng Ninh, tỉnh có trên 13.000 thí sinh dự thi THPT quốc gia tại 34 điểm thi. Mỗi huyện, thị (14 huyện thị) phải có ít nhất một điểm thi. Cơ sở vật chất đáp ứng phục vụ kỳ thi và phải có nơi ăn chốn ở (gần nhà nghỉ, khách sạn hoặc trong điểm thi có thể lo được) cho giáo viên về coi thi và thí sinh nghỉ nếu có nhu cầu.

Tại trường THPT Lê Hồng Phong (thành phố Cẩm Phả), ông Ngô Bá Uyên, hiệu trưởng nhà trường cho biết giảng viên Trường ĐH Sư phạm Hà Nội sẽ về làm công tác thi tại điểm trường. Chỗ ở lực lượng giảng viên về coi thi được bố trí nghỉ tại nhà nghỉ, khách sạn cách trường 1.4km. Tại trường THPT Hải Đảo, huyện Vân Đồn, Quảng Ninh, cán bộ ĐH về coi thi cũng được bố trí ăn nghỉ gần khu vực điểm thi.

Đặc biệt, năm nay, các trường THPT phải có số điện thoại, địa chỉ của tất cả các thí sinh tham gia kỳ thi THPT quốc gia. Trong thời gian diễn ra kỳ thi, trường, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm gọi điện đôn đốc thí sinh. Trên các phương tiện truyền thông như đài phát thanh những ngày thi đều thông báo ngày giờ cụ thể mỗi môn thi.

Tại 2 điểm thi ở đảo là Cô Tô và Quan Lạn, số lượng thí sinh tham gia dự thi không lớn nhưng tất cả các khâu của kỳ thi đều được thực hiện nghiêm túc, đặc biệt là khâu vận chuyển đề thi. “Với các điểm thi trong đất liền, đề thi được vận chuyển đến điểm thi trước ngày thi một ngày thì tại hai điểm thi ngoài đảo sẽ được vận chuyển đến trước hai ngày. Trong trường hợp nếu có bão to chúng tôi sẽ xin ý kiến chỉ đạo cụ thể”.

Sở GD-ĐT Hải Phòng năm nay cũng có cách làm mới đó là bổ sung thêm lực lượng công an phòng cháy chữa cháy tham gia kỳ thi, khai thác tối đa cơ sở vật chất của các trường ĐH đóng trên địa bàn.

Đối với kỳ thi sắp tới, làm việc với hai địa phương, ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng giáo dục, Bộ GD&ĐT một lần nữa nhấn mạnh đến vấn đề bảo mật đề thi, bài làm của thí sinh.

“Tại tất cả các điểm thi, bài thi, đề thi ở đâu, công an và điểm trưởng phải ở đó”.

  • Tú Lệ 
18 June 0 Bình luận

Theme Settings