Tin tức

KDCLGD

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 15/2017/TT-BLĐTBXH​ Quy định tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 24/7/2017.

Thông tư này được áp dụng đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình độ cao đẳng, doanh nghiệp có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp và các đơn vị, cá nhân có liên quan.

Theo quy định, có 9 tiêu chí, điểm chuẩn đánh giá chất lượng Trường trung cấp và cao đẳng, tổng điểm đánh giá là 100 điểm:

Tiêu chí Điểm chuẩn
Tiêu chí 1 – Mục tiêu, sứ mạng, tổ chức và quản lý 12
Tiêu chí 2 – Hoạt động đào tạo 17
Tiêu chí 3 – Nhà giáo, cán bộ quản lý, viên chức và người lao động 15
Tiêu chí 4 – Chương trình, giáo trình 15
Tiêu chí 5 – Cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo 15
Tiêu chí 6 – Nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế 5
Tiêu chí 7 – Quản lý tài chính 6
Tiêu chí 8 – Dịch vụ người học 9
Tiêu chí 9 – Giám sát – đánh giá chất lượng 6
Tổng số 100

Điểm đánh giá cho mỗi tiêu chuẩn đạt yêu cầu là 1 điểm, tiêu chuẩn không đạt yêu cầu là 0 điểm. Tiêu chuẩn đạt yêu cầu được xác định trên cơ sở trường đáp ứng tiêu chuẩn và duy trì ít nhất trong 02 năm liên tục tính đến thời điểm đánh giá đối với trường trung cấp và duy trì ít nhất trong 03 năm liên tục tính đến thời điểm đánh giá đối với trường cao đẳng.

Chương trình đào tạo trình độ trung cấp và cao đẳng cũng có 7 tiêu chí đánh giá gồm: Tiêu chí 1 – Mục tiêu, quản lý và tài chính; tiêu chí 2 – Hoạt động đào tạo; tiêu chí 3 – Nhà giáo, cán bộ quản lý và nhân viên; tiêu chí 4 – Chương trình, giáo trình; tiêu chí 5 – Cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo và thư viện; tiêu chí 6 – Dịch vụ cho người học; tiêu chí 7 – Giám sát, đánh giá chất lượng.

Điểm đánh giá cho mỗi tiêu chuẩn đạt yêu cầu là 2 điểm, tiêu chuẩn không đạt yêu cầu là 0 điểm. 

Tiêu chuẩn đạt yêu cầu khi cơ sở đào tạo đáp ứng tiêu chuẩn trong 02 năm liên tục tính đến thời điểm đánh giá đối với chương trình đào tạo trình độ trung cấp và trong 03 năm liên tục tính đến thời điểm đánh giá đối với chương trình đào tạo trình độ cao đẳng.

Việc đánh giá mức độ một chương trình đào tạo cụ thể tại một cơ sở đào tạo đáp ứng hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn chỉ áp dụng đối với các yếu tố, nội dung liên quan đến việc thực hiện chương trình đào tạo.

Xem chi tiết thông tư

Văn bản công tác tự đánh giá

TRUNG TÂM KHẢO THÍ VÀ ĐBCL

19 June 0 Bình luận
Khao sat

TTO – “Bạn cảm thấy như thế nào khi làm việc với phòng công tác sinh viên?”, đó là câu hỏi khảo sát trên màn hình cảm ứng đặt trước phòng công tác sinh viên của Trường ĐH Công nghệ thông tin – ĐHQG TP.HCM. 

Trường đại học đặt máy khảo sát mức độ hài lòng sinh viên
Sinh viên bày tỏ mức độ hài lòng và góp ý cho phòng công tác sinh viên Trường ĐH Công nghệ thông tin (ĐHQG TP.HCM) – Ảnh: TƯỜNG HÂN

Hệ thống này giúp nhà trường thay đổi cách lắng nghe sinh viên. Để trả lời câu hỏi trên, sinh viên chọn một trong năm biểu tượng cảm xúc: cực kỳ thất vọng, buồn, bình thường, vui và cực kỳ hài lòng.

Máy cũng đề nghị sinh viên để lại vài dòng góp ý cụ thể. Ở mức độ dùng thử, trường chưa đặt mua công cụ đánh giá, nên dữ liệu thu thập từ máy chỉ được tổng hợp dưới dạng file Excel và gửi về máy tính do trưởng phòng công tác sinh viên quản lý.

Đây là công nghệ của một công ty startup, do các cựu học sinh Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong sáng lập cùng nhóm kỹ sư người Mỹ và Việt Nam, phát triển tại Mỹ với tên gọi ConfiguRate (phần mềm đánh giá nhanh).

“Mỗi máy khảo sát là một máy tính bảng kết hợp camera hoạt động 24/24 giờ, hệ thống máy giúp thống kê dữ liệu và đưa ra khuyến nghị.

Hệ thống có nhiệm vụ chuyển thông tin và góp ý của sinh viên thành dữ liệu đám mây, tổ chức quản lý có thể xem thông tin ngay tức thời” – chị Trần Thị Kiều Oanh, 
đại diện công ty, cho biết.

“Tùy nhu cầu, đơn vị sử dụng máy có thể đặt nhiều loại câu hỏi khác nhau. Máy khảo sát mức độ hài lòng trực tiếp từ sinh viên tạo hứng thú cho các bạn khi đến phòng công tác sinh viên và khuyến khích tinh thần học hỏi, sáng tạo, khởi nghiệp của các bạn” – ông Nguyễn Văn Toàn, trưởng phòng công tác sinh 
viên, cho biết.

TƯỜNG HÂN (TUOITRE.VN)

18 June 0 Bình luận
News Tin tuc

VietNamNet – Cơ quan chức năng cảnh báo trước kỳ thi THPT quốc gia 2017, có hai thiết bị công nghệ cao để gian lận thi cử phổ biến là máy tính bỏ túi và đồng hồ. Ngoài ra, các giám thị cũng phải chú ý đến cả những thiết bị khác từ nhẫn, kính thí sinh đeo.

Thiết bị gian lận "đội lốt" đồng hồ, máy tính bỏ túi

Đại tá Nguyễn Bạch Đằng, Cục An ninh chính trị nội bộ (Bộ Công an) lưu ý như vậy trong chuyến kiểm tra thi cùng đoàn công tác của Bộ GD&-ĐT tại hai địa phương Hải Phòng và Quảng Ninh vừa qua.

Theo Đại tá Đằng, với máy tính bỏ túi, các giám thị phải kiểm tra xem có đúng chức năng của máy tính không. Vì nhiều khi vỏ là máy tính nhưng ruột là điện thoại Iphone. Nên có thể chụp ảnh toàn bộ đề thi ra ngoài, đồng thời nhận được lời giải từ ngoài gửi vào.

thi THPT quốc gia,thi trung học phổ thông quốc gia,gian lận thi cử
Kiểm tra thi THPT quốc gia 2017 tại Trường THPT An Hải (Hải Phòng). Ảnh: Tú Lệ

Thứ hai là đồng hồ. Vì có trường hợp dán mặt đồng hồ còn thực chất là điện thoại, tai nghe của những đồng hồ này chỉ bằng hạt gạo đặt vào trong tai.  

"Khi vào phòng thi, giám thị coi thi cần kiểm tra một lượt máy tính bỏ túi và đồng hồ đeo tay của thí sinh xem là “hàng thật” hay “hàng đội lốt”. Chỉ cần bấm qua một số nút trên máy tính là có thể phát hiện được điều này. Chúng tôi cũng từng phát hiện những chiếc đồng hồ được dán mặt hình đồng hồ như thật nhưng thực chất là một chiếc điện thoại rất hiện đại” – Đại tá Đằng chia sẻ thực tế.

Còn Đại tá Vũ Đức Thành, PA83 Công an thành phố Hải Phòng cũng cho biết thêm hiện có loại ống nhòm mới có thể nhìn xa cách mục tiêu 2km,  sau đó phóng lên rồi chụp bằng điện thoại. 

Do đó, nguy cơ lộ đề thi rất có thể xẩy ra từ cách xa điểm thi tới 2km. Vì vậy, đại tá Thành yêu cầu tất cả các điểm thi có tiếp xúc với nhà dân phải đóng cửa sổ. Giám thị phải chú ý đến các biểu hiện của thí sinh trong phòng thi.

Ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng giáo dục (Bộ GD-ĐT), nhấn mạnh đến vấn đề đảm bảo an ninh, an toàn cho các điểm thi. 

“Cán bộ giám sát phải giám sát cả mặt sau của mỗi phòng thi. Có che chắn với khu vực tiếp giáp với nhà dân. Những điểm xung yếu cần bổ sung thêm lực lượng an ninh cắm chốt".

Trước đề nghị của ông Trinh, Thượng tá Nguyễn Bá Bính, phó giám đốc công an tỉnh Quảng Ninh đã yêu cầu ngành giáo dục của tỉnh rà soát một lần nữa tất cả các điểm thi có được con số cụ thể, chính xác để công an bố trí lực lượng.

Trong khi đó, ông Nguyễn Sơn Hải, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin (Bộ GD-ĐT) cho biết Bộ đã hướng dẫn danh sách máy tính cầm tay được mang vào phòng thi. Theo ông Hải, khó khăn là làm sao giám thị có năng lực để phát hiện hành vi sử dụng công nghệ cao.

Ông Nguyễn Xuân Trường, Giám đốc Sở GD-ĐT Hải Phòng chia sẻ kinh nghiệm của Hải Phòng: Khi vào làm thi, PA83 dùng nghiệp vụ để kiểm soát, xem xét nghiêm hơn cả hành khách lên máy bay. Điện thoại của các thành viên thuộc ban in sao đề thi đều được niêm phong bên ngoài.

"Phá sóng tại các điểm thi rất khó. Chúng tôi hạn chế tối đa bằng biện pháp là kiểm soát con người. Từ in sao đề cho tới làm phách. Tuy nhiên, lo lắng nhất hiện nay của chúng tôi là công nghệ hiện đại”.

Gọi điện thoại đôn đốc thí sinh những ngày thi

Theo bà Vũ Liên Oanh, Giám đốc Sở GD-ĐT Quảng Ninh, tỉnh có trên 13.000 thí sinh dự thi THPT quốc gia tại 34 điểm thi. Mỗi huyện, thị (14 huyện thị) phải có ít nhất một điểm thi. Cơ sở vật chất đáp ứng phục vụ kỳ thi và phải có nơi ăn chốn ở (gần nhà nghỉ, khách sạn hoặc trong điểm thi có thể lo được) cho giáo viên về coi thi và thí sinh nghỉ nếu có nhu cầu.

Tại trường THPT Lê Hồng Phong (thành phố Cẩm Phả), ông Ngô Bá Uyên, hiệu trưởng nhà trường cho biết giảng viên Trường ĐH Sư phạm Hà Nội sẽ về làm công tác thi tại điểm trường. Chỗ ở lực lượng giảng viên về coi thi được bố trí nghỉ tại nhà nghỉ, khách sạn cách trường 1.4km. Tại trường THPT Hải Đảo, huyện Vân Đồn, Quảng Ninh, cán bộ ĐH về coi thi cũng được bố trí ăn nghỉ gần khu vực điểm thi.

Đặc biệt, năm nay, các trường THPT phải có số điện thoại, địa chỉ của tất cả các thí sinh tham gia kỳ thi THPT quốc gia. Trong thời gian diễn ra kỳ thi, trường, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm gọi điện đôn đốc thí sinh. Trên các phương tiện truyền thông như đài phát thanh những ngày thi đều thông báo ngày giờ cụ thể mỗi môn thi.

Tại 2 điểm thi ở đảo là Cô Tô và Quan Lạn, số lượng thí sinh tham gia dự thi không lớn nhưng tất cả các khâu của kỳ thi đều được thực hiện nghiêm túc, đặc biệt là khâu vận chuyển đề thi. “Với các điểm thi trong đất liền, đề thi được vận chuyển đến điểm thi trước ngày thi một ngày thì tại hai điểm thi ngoài đảo sẽ được vận chuyển đến trước hai ngày. Trong trường hợp nếu có bão to chúng tôi sẽ xin ý kiến chỉ đạo cụ thể”.

Sở GD-ĐT Hải Phòng năm nay cũng có cách làm mới đó là bổ sung thêm lực lượng công an phòng cháy chữa cháy tham gia kỳ thi, khai thác tối đa cơ sở vật chất của các trường ĐH đóng trên địa bàn.

Đối với kỳ thi sắp tới, làm việc với hai địa phương, ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng giáo dục, Bộ GD&ĐT một lần nữa nhấn mạnh đến vấn đề bảo mật đề thi, bài làm của thí sinh.

“Tại tất cả các điểm thi, bài thi, đề thi ở đâu, công an và điểm trưởng phải ở đó”.

  • Tú Lệ 
18 June 0 Bình luận
Cơ sở giáo dục đại học không đạt chuẩn chất lượng sẽ bị đình chỉ tuyển sinh

(GDVN) – Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học với 25 tiêu chuẩn, 7 mức đánh giá.

Quy định này có hiệu lực thi hành từ 4/7/2017.

Theo quy định, kết quả kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục được sử dụng làm căn cứ để xác định chất lượng giáo dục đại học, vị thế và uy tín của cơ sở giáo dục; thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm; là một trong các tiêu chí để cơ quan có thẩm quyền xem xét hỗ trợ đầu tư, giao nhiệm vụ, thực hiện phân tầng, xếp hạng, giao quyền tự chủ và sắp xếp lại mạng lưới cơ sở giáo dục.

Các cơ sở giáo dục tham gia kiểm định chất lượng theo quy định và được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng được cơ quan có thẩm quyền ưu tiên lựa chọn để đầu tư phát triển, được thực hiện quyền tự chủ cao hơn. Các tín chỉ mà người học tích lũy ở cơ sở giáo dục đã được kiểm định được công nhận và chuyển đổi.

Cơ sở giáo dục tham gia kiểm định chất lượng nhưng chưa được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng bị hạn chế quyền tự chủ. Nếu liên tục 3 năm sau đó mà vẫn không thực hiện cải tiến chất lượng để được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng thì sẽ bị áp dụng chế tài hạn chế hoặc đình chỉ việc tuyển sinh.

Theo quy định này, bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục gồm 25 tiêu chuẩn. Các tiêu chuẩn cụ thể gồm: Tầm nhìn, sứ mạng và văn hóa; quản trị;

Lãnh đạo và quản lý; Quản trị chiến lược; Các chính sách về đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng; Quản lý nguồn nhân lực; Quản lý tài chính và cơ sở vật chất; Các mạng lưới và quan hệ đối ngoại;

Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong; tự đánh giá và đánh giá ngoài; hệ thống thông tin đảm bảo chất lượng bên trong; nâng cao chất lượng;

Tuyển sinh và nhập học; thiết kế và rà soát chương trình dạy học; Giảng dạy và học tập; Đánh giá người học; các hoạt động phục vụ và hỗ trợ người học; Quản lý nghiên cứu khoa học; Quản lý tài sản trí tuệ; Hợp tác và đối tác nghiên cứu khoa học; Kết nối và phục vụ cộng đồng;

Kết quả đào tạo; kết quả nghiên cứu khoa học; kết quả phục vụ cộng đồng; kết quả tài chính và thị trường.

Các tiêu chí của bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục quy định ở trên được đánh giá theo thang đánh giá 7 mức (tương ứng với 7 điểm) như sau:

Mức 1. Không đáp ứng yêu cầu tiêu chí: Không thực hiện công tác đảm bảo chất lượng để đáp ứng yêu cầu tiêu chí. Không có các kế hoạch, tài liệu, minh chứng hoặc kết quả có sẵn. Cần thực hiện cải tiến chất lượng ngay;

Mức 2. Chưa đáp ứng yêu cầu tiêu chí, cần có thêm nhiều cải tiến chất lượng: Công tác đảm bảo chất lượng đối với những lĩnh vực cần phải cải tiến để đáp ứng yêu cầu tiêu chí mới đang ở giai đoạn lập kế hoạch hoặc không đáp ứng yêu cầu. Có ít tài liệu hoặc minh chứng. Hoạt động đảm bảo chất lượng còn ít được thực hiện hoặc hiệu quả kém;

Mức 3. Chưa đáp ứng yêu cầu tiêu chí nhưng chỉ cần một vài cải tiến nhỏ sẽ đáp ứng được yêu cầu: Đã xác định và thực hiện hoạt động đảm bảo chất lượng để đáp ứng yêu cầu của tiêu chí nhưng cần có thêm cải tiến nhỏ mới đáp ứng đầy đủ yêu cầu của tiêu chí.

Có các tài liệu, nhưng không có các minh chứng rõ ràng chứng tỏ chúng được sử dụng, triển khai đầy đủ. Việc thực hiện hoạt động đảm bảo chất lượng không nhất quán hoặc có kết quả hạn chế;

Mức 4. Đáp ứng đầy đủ yêu cầu tiêu chí: Thực hiện đầy đủ công tác đảm bảo chất lượng để đáp ứng yêu cầu của tiêu chí. Có các minh chứng chứng tỏ việc thực hiện được tiến hành đầy đủ. Việc thực hiện hoạt động đảm bảo chất lượng đem lại kết quả đúng như mong đợi;

Mức 5. Đáp ứng cao hơn yêu cầu tiêu chí: Công tác đảm bảo chất lượng đáp ứng tốt hơn so với yêu cầu của tiêu chí. Có các minh chứng chứng tỏ việc thực hiện được tiến hành một cách hiệu quả. Việc thực hiện hoạt động đảm bảo chất lượng cho thấy các kết quả tốt và thể hiện xu hướng cải tiến tích cực;

Mức 6. Thực hiện tốt như một hình mẫu của quốc gia: Việc thực hiện công tác đảm bảo chất lượng để đáp ứng yêu cầu của tiêu chí được xem là điển hình tốt nhất của quốc gia.

Có các minh chứng chứng tỏ việc thực hiện được tiến hành một cách hiệu quả. Việc thực hiện hoạt động đảm bảo chất lượng cho các kết quả rất tốt và thể hiện xu hướng cải tiến rất tích cực;

Mức 7. Thực hiện xuất sắc, đạt mức của các cơ sở giáo dục hàng đầu thế giới: Việc thực hiện công tác đảm bảo chất lượng để đáp ứng yêu cầu của tiêu chí được xem là xuất sắc, đạt trình độ của những cơ sở giáo dục hàng đầu thế giới hoặc là điển hình hàng đầu để các cơ sở giáo dục khác trên thế giới học theo.

Linh Hương (Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam)

8 June 0 Bình luận
KDCLGD
GD&TĐ – Ý thức được vai trò của chất lượng đối với sự tồn tại và phát triển của nhà trường, các hoạt động kiểm định chất lượng, xây dựng, vận hành và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng được các trường ĐH chú trọng. Tuy nhiên, không có chuyện trường ĐH cứ tham gia kiểm định là được công nhận đạt chuẩn.

Trao đổi với báo Giáo dục và Thời đại về vấn đề này, PGS.TS. Nguyễn Quý Thanh, Giám đốc Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (ĐHQG Hà Nội) cho biết: Trong số các trường đã được đánh giá mà tôi biết, của cả Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục ĐHQG Hà Nội và ĐHQG TP Hồ Chí Minh, có 1 số trường khi đánh giá ngoài xong không đủ điều kiện để đưa vào công nhận vì số lượng tiêu chí đạt dưới 80%.

Khi công nhận, Hội đồng thẩm định thẩm định báo cáo đánh giá ngoài và báo cáo tự đánh giá của nhà trường; dựa vào kết quả của đoàn đánh giá ngoài, cộng thêm báo cáo giải trình của nhà trường để đưa ra kết luận. Khi đó, các minh chứng đã chắc chắn hơn.

Thực tế, không phải trường nào khi đưa vào đánh giá ngoài cũng đủ điều kiện để được công nhận đạt chuẩn chất lượng. Có trường được hội đồng thông qua, nhưng có điều kiện, ví dụ, sau 1 năm phải báo cáo lại xem cải tiến từng tiêu chí cụ thể như thế nào; nếu không quyết nghị có thể bị rút lại.

Chỉ ra điểm yếu, cho nhà trường một cơ hội để cải thiện chất lượng

– Có trường hợp nào nhà trường dù chưa đạt một số tiêu chí quan trọng như chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên… nhưng vẫn được công nhận kiểm định chất lượng hay không? Lý giải của ông?

 PGS.TS. Nguyễn Quý Thanh

Quy định kiểm định chất lượng có 61 tiêu chí về tất cả các mặt khác nhau của nhà trường. Cách tiếp cận hiện nay là đánh giá một cách tổng thể, nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, các tiêu chí đều có tầm quan trọng như nhau, không xem tiêu chí nào quan trọng hơn; bởi quan điểm công tác đảm bảo chất lượng phải được tiếp cận một cách đồng đều ở nhiều mặt, không phải chỉ làm được một mặt mà bỏ qua các mặt khác.Đó là l‎ý do tại sao trường có 1 số tiêu chí không đạt nhưng vẫn được công nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng.

Tuy nhiên, thực tế có những tình huống như trường không đảm bảo yêu cầu về giảng viên vì có một số người đang đi học nghiên cứu sinh. Việc này có ảnh hưởng nhất định đến việc giảng dạy, nhưng nếu nhà trường sử dụng đội ngũ chưa đạt chuẩn đó vào hướng dẫn thực tập, hướng dẫn xemina… thì lại không sai quy định và không có ảnh hưởng. Chúng tôi đã bắt gặp tình huống như vậy.

Đơn cử, một trường đủ số lượng cán bộ để thực hiện chương trình đào tạo và nghiên cứu, khi tính ra tỷ lệ giảng viên là 1/27, trong khi quy định phải không quá 1/25. Trường hợp này, đương nhiên tiêu chí đó chúng tôi đánh giá không đạt. Nhưng tính tổng thể thì trường vẫn vượt một ngưỡng tối thiểu. Đó là cảnh báo và rất phù hợp với bản chất của kiểm định chất lượng, đó là tìm ra những điểm còn tồn tại, điểm yếu của nhà trường để khắc phục; cho nhà trường một cơ hội để cải thiện chất lượng.

Từ góc độ kiểm định chất lượng, càng chỉ ra nhiều tiêu chí càng tốt. Khi trường đã biết tồn tại để khắc phục rồi thì chất lượng sẽ liên tục được cải tiến.

Có thể yên tâm về kết quả kiểm định

– Ông có thể chia sẻ rõ hơn về quy trình đánh giá. Với quy trình này, chúng ta có thể an tâm về độ chính xác của kết quả kiểm định?

Trong đánh giá, thông tin thu thập chính là đợt khảo sát sơ bộ và đợt khảo sát chính thức.

Khảo sát sơ bộ là khảo sát tổng thể về hồ sơ minh chứng của nhà trường cũng như công tác chuẩn bị, tổ chức cho đợt đánh giá chính thức. Tùy vào quy mô của nhà trường, số lượng cơ sở đào tạo, có thể kéo dài 1 – 2 ngày.

Sau đó, các đoàn, Trung tâm gửi yêu cầu nhà trường bổ sung thông tin, minh chứng, chốt thông tin ở thời điểm nào… Với chúng tôi, thường chốt các dữ liệu vào ngày đầu tiên của tháng trước đó. Ví dụ, khi làm sơ bộ tháng 5 thì chốt dữ liệu dến 1/5; riêng dữ liệu tài chính chốt vào 31/12 năm trước đó.

Trong đợt khảo sát chính thức, để thông tin nhiều chiều, chúng tôi phải gặp tất cả các bên liên quan của nhà trường, bao gồm lãnh đạo trường, lãnh đạo các phòng chức năng, lãnh đạo các khoa, giảng viên, nhân viên, sinh viên – học viên tất cả các hệ bậc học, gặp cả những người đang học và đã học trong vòng 5 năm; phải đi thăm các cơ sở giảng dạy của nhà trường nếu có, kể cả ở ngoài tỉnh; phải có các kênh khảo sát độc lập khác.

Ví dụ, đối với việc làm, nhà trường cung cấp số liệu, Trung tâm chúng tôi phỏng vấn số lượng khá lớn sinh viên độc lập với nhà trường, dựa vào kết quả đó để soi lại kết quả của trường, trên cơ sở đó đưa ra kết luận cuối cùng về kết quả việc làm của sinh viên.

Ngoài ra, chúng tôi phải thẩm định dữ liệu khảo sát của trường trong vòng 5 năm, không có là điểm trừ; kiểm tra phiếu khảo sát gốc, không có cũng là điểm trừ. Nếu khảo sát trực tuyến, chúng tôi đề nghị trường chạy cơ sở dữ liệu để kiểm tra, nếu không có tiếp tục là điểm trừ. Nếu trường có báo cáo việc làm nhưng không thấy cơ sở dữ liệu gốc, lại là điểm trừ nữa… Nếu có dữ liệu gốc, chúng tôi yêu cầu chạy thử xem có ra kết quả như vậy không…

Thông thường, nếu khảo sát của chúng tôi ra kết quả cao hơn, chúng tôi sẽ lấy kết quả của nhà trường và ngược lại, nếu khảo sát có kết quả thấp hơn sẽ lấy kết quả của chúng tôi. Như vậy, phương án bao giờ cũng là công bố số liệu an toàn hơn.

Cách làm như vậy, có khi mất cả ngày trời chỉ điểm ra được 1 đoạn viết rất ngắn về tình trạng việc làm của sinh viên.

Chúng tôi cũng sẽ trực tiếp làm việc với cơ sở dữ liệu quốc tế để kiểm tra về các bài báo quốc tế của nhà trường, nếu nhà trường có thông tin;

Chúng tôi sẽ lập 1 danh sách các tài liệu mà nhà trường cần phải có theo đúng đề cương môn học mà nhà trường cung cấp. Trường có hàng nghìn để cương môn học, trong mỗi đề cương môn học, thường là có tên các tài liệu bắt buộc (trường tự xác định); chúng tôi lập danh sách hàng trăm đầu mục đó và yêu cầu thư viện tìm kiếm, đưa đến cho đoàn xác nhận. Nhiều người hiểu lầm công tác kiểm định chất lượng là áp số lượng, áp chủng loại. Chúng tôi không làm việc đó vì trường là đơn vị hiểu rõ hơn ai hết về các loại tài liệu gì cần cho chương trình đào tạo, môn học của mình.

Bên cạnh đó, chúng tôi công bố thông tin về đoàn cũng như email giao dịch, điện thoại. Kênh này nhận được phản ánh của cán bộ giảng viên, sinh viên, thậm chí cả đơn từ.

Như vậy, có thể nói, thông tin được thu thập từ rất nhiều kênh, nhiều chiều, nhiều cấp độ khác nhau. Do đó, xã hội hoàn toàn có thể tin tưởng được.

Cơ chế quan trọng nhất của đảm bảo chất lượng

– Khó khăn với đoàn đánh giá trong quá trình thực hiện đánh giá ngoài là gì, ông có thể chia sẻ?

Khó khăn là tìm kiếm minh chứng, quan trọng nhất là minh chứng, minh chứng trực tiếp và minh chứng hiện hành, vì quá trình hoạt động của các trường ĐH Việt Nam thông thường tính chuẩn hóa trong hoạt động chưa cao. Một số trường đã áp dụng ISO, việc quản lý tài liệu hồ sơ minh chứng tốt hơn.

Khó khăn thứ 2 bắt nguồn từ việc quản lý theo quy định ở các trường nhiều khi chưa được tuân thủ chặt chẽ, đôi khi các hoạt động được thực hiện theo kiểu “khẩu dụ” hơn là bằng văn bản.

– Ông có thể cho biết tầm quan trọng của hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ĐH hiện nay?

Kiểm định chất lượng hiện nay đang được dùng như một cơ chế quan trọng nhất của đảm bảo chất lượng, cơ chế giám sát của xã hội đối với chất lượng của giáo dục ĐH; được dùng trong một số nhiệm vụ quan trọng của ngành, đặc biệt trong quy hoạch mạng lưới các trường ĐH, CĐ.

Một trong những căn cứ quy hoạch là kết quả kiểm định chất lượng. Đó cũng là căn cứ để áp dụng tự chủ. Những trường kết quả kiểm định tốt sẽ được giao mức độ tự chủ cao hơn.

– Xin cảm ơn PGS!

Hiếu Nguyễn (thực hiện)

6 June 0 Bình luận
TESTING

Theo Đại sứ Anh tại Việt Nam, Giles Lever: Ngôn ngữ tiếng Anh ngày nay không chỉ là một môn học ở trường, mà được sử dụng toàn cầu, trở thành một kỹ năng quan trọng của thế kỷ 21. Kỹ năng ngôn ngữ tiếng Anh sẽ cung cấp cho người học những cơ hội nghề nghiệp, du học nước ngoài và hòa nhập với thế giới tốt hơn.

Đại sứ Giles Lever cho rằng: Công tác khảo thí chất lượng cao và đáng tin cậy giúp gây dựng niềm tin đối với hệ thống giáo dục và niềm tin đối với bằng cấp. Nó tạo ra những cơ hội thực sự cho con người để họ thể hiện năng lực của mình và có những công việc tốt hơn hoặc để học lên cao hơn ở Việt Nam cũng như quốc tế. Nó cũng thúc đẩy sự thay đổi – các giáo viên tập trung hơn cho công tác giảng dạy những kỹ năng giao tiếp thực sự, hơn là chỉ luyện thi.

22 April 0 Bình luận
British council

Thông tin chung và mục đích

Hội nghị quốc tế về Khảo thí Ngoại ngữ New Directions là hội nghị thường niên do Hội đồng Anh tổ chức tại khu vực Đông Á. Hội nghị mang đến những quan điểm và cách nhìn về xu hướng và cách tiếp cận mới về khảo thí tiếng Anh trong khu vực và trên thế giới. Hội nghị đã được tổ chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc), Tokyo (Nhật Bản) và Seoul (Hàn Quốc). New Directions năm 2016 tại Hà Nội sẽ xem xét vai trò và ảnh hưởng của kiểm tra đánh giá theo định hướng chuẩn hóa, sự phát triển và/hoặc sử dụng các khung năng lực để đánh giá trình độ ngôn ngữ. Hội nghị cũng sẽ xem xét cách thức đánh giá dựa trên năng lực: những lợi ích và thách thức của phương pháp này.

Sứ mệnh của chúng tôi

Các Hội nghị New Directions trước đây đã mang đến một diễn đàn chất lượng, nơi gặp nhau giữa những góc nhìn của từng quốc gia với góc nhìn toàn cầu. Từ đó, chuỗi hội nghị đã phản ánh một cách phong phú về những thách thức trong đào tạo ngoại ngữ tại khu vực Đông Á và trên toàn thế giới. Chủ đề của hội nghị năm nay sẽ nêu bật các hướng tiếp cận và giải pháp cho những thách thức đó, những giải pháp hiện đang được đề xuất và triển khai trong khu vực và trên toàn thế giới.

Đối tượng tham dự

New Directions là nơi giao lưu, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm, cũng như cập nhật những phát triển đi đầu trong lĩnh vực khảo thí.

Hội nghị sẽ thu hút sự quan tâm của giới học thuật và nghiên cứu, các cán bộ giáo dục và giáo viên từ tất cả các khu vực trong hệ thống giáo dục, bao gồm giáo dục đại học, đào tạo nghề, giáo dục phổ thông và tiểu học; cũng như đại diện đến từ các hiệp hội và tổ chức khảo thí.

Không chỉ đơn thuần có sức hút với các giới chuyên môn khảo thí, New Directions 2016 còn dành cho đối tượng giáo viên, các nhà lãnh đạo giáo dục và nhà hoạch định chính sách – những người quan tâm và mong muốn tìm hiểu sâu hơn về các xu hướng và cách tiếp cận mới nhất ở trong nước và trên thế giới về dạy, học và khảo thí tiếng Anh.

Nguồn: Hội đồng Anh

22 April 0 Bình luận
VSTEP

(VnExpress) Cả nước có 10 cơ sở thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo được công nhận năng lực khảo thí ngoại ngữ, cấp giấy chứng nhận cho người học, nhưng chưa có đơn vị giám sát đảm bảo chất lượng các cơ sở đó.

Hội nghị quốc tế về khảo thí ngoại ngữ New Directions 2016 do Hội đồng Anh, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Ban quản lý Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 đồng tổ chức đã diễn ra ngày 13-14/10/2016 tại Hà Nội. Diễn giả đến từ 14 quốc gia và hàng trăm đại biểu tham dự đã đưa ra những quan điểm, cách nhìn nhận về hoạt động khảo thí, đánh giá năng lực ngoại ngữ trên thế giới và ở Việt Nam.

Nhiều đại biểu khẳng định khảo thí ngoại ngữ chính xác và hiệu quả sẽ tác động trực tiếp đến quá trình dạy và học. Nhưng ở Việt Nam, hoạt động này không được quan tâm ngay từ đầu. Vai trò của khảo thí ngoại ngữ chỉ được đặt đúng vị trí từ năm 2007, khi chuẩn bị cho Đề án ngoại ngữ 2020.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh, Giám đốc Trung tâm khảo thí Đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhận xét kể từ khi có Đề án ngoại ngữ 2020, hoạt động khảo thí được quan tâm hơn, nhưng cũng phải đến năm 2014 Bộ Giáo dục mới ban hành khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam dựa trên Khung tham chiếu trình độ ngôn ngữ chung của châu Âu CEFR. Đây chỉ là bước đi đầu tiên tiến đến khảo thí ngoại ngữ theo tiêu chuẩn quốc tế.

Bà Hà Nguyễn, nghiên cứu sinh của Đại học bang Bắc Carolina (Mỹ) đã có cuộc khảo sát nhỏ với sinh viên Việt Nam và nhận thấy khi học năm nhất, khả năng ngoại ngữ của nhiều sinh viên đạt trình độ B1, B2, nhưng sau 4-5 năm học đại học, mục đích đạt tới trình độ C1 của các em chưa hoàn thành. Điều này cho thấy việc khảo thí và đánh giá năng lực ngoại ngữ ở nhiều trường đại học chưa đạt hiệu quả.

Mặt khác, Việt Nam hiện chỉ có 10 đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo được công nhận năng lực khảo thí ngoại ngữ, đủ khả năng kiểm tra, đánh giá, rà soát năng lực ngoại ngữ và cấp giấy chứng nhận cho người học. Tuy nhiên, chưa có đơn vị nào giám sát nhằm đảm bảo chất lượng đánh giá năng lực ngoại ngữ của 10 đơn vị đó. Trước thực tế đó, nhiều đại biểu cho rằng Việt Nam cần có một trung tâm khảo thí cấp quốc gia và có những chính sách phù hợp trong việc đảm bảo chất lượng trong đánh giá năng lực ngoại ngữ.

viet-nam-thieu-trung-tam-khao-thi-nang-luc-ngoai-ngu-quoc-gia

Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo Bùi Văn Ga phát biểu tại hội nghị.

Chưa thể đảm bảo chất lượng là một trong những nguyên nhân khiến chứng chỉ ngoại ngữ do các đơn vị cấp chưa được thế giới công nhận. Đây là rào cản lớn trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. “Khi năng lực ngoại ngữ được đánh giá trên các tiêu chuẩn quốc tế, lao động Việt Nam mới có thể cạnh tranh hơn trên thị trường lao động, có nhiều cơ hội việc làm trong bối cảnh dịch chuyển lao động tự do giữa các nước trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN”, Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo Bùi Văn Ga nhấn mạnh.

Để nâng cao chất lượng đánh giá năng lực ngoại ngữ, các trường đại học, cao đẳng cần xây dựng chương trình dạy và học ngoại ngữ cho phù hợp với các tiêu chí đánh giá năng lực. Bà Ngọc Quỳnh nhận định việc áp dụng khung tham chiếu trình độ chung châu Âu CEFR không chỉ dừng lại ở khảo thí mà phải được đưa vào chương trình.

Bà Quỳnh khẳng định ở Việt Nam hiện nay, duy nhất Đại học Ngoại ngữ xây dựng hoàn thiện chương trình dạy và học áp dụng tiêu chí của khung năng lực ngoại ngữ, đặt ra những yêu cầu cụ thể cho sinh viên theo từng kỳ học sao cho đến khi ra trường có khả năng sử dụng ngoại ngữ ở trình độ C1. Trên thực tế, từ năm 2016, tất cả sinh viên Đại học Ngoại ngữ phải có chứng chỉ C1 mới đủ điều kiện tốt nghiệp.

Ông Bùi Văn Ga cho biết, để hướng tới việc chứng chỉ ngoại ngữ do các đơn vị của Việt Nam cấp được công nhận rộng rãi trong khu vực và trên giới, Bộ đang rất quan tâm đến việc hoàn thành cải cách khảo thí giáo dục. “Chúng tôi đang chú trọng hơn đến khảo thí ngoại ngữ – công cụ quan trọng trong dạy và học ngoại ngữ. Nó được xem là công cụ đánh giá hữu hiệu, thể hiện được năng lực ngoại ngữ của học sinh”, ông Ga khẳng định và cho hay nhu cầu xây dựng một trung tâm khảo thí chất lượng quốc tế đang là vấn đề được Bộ đặt ra.

Đại sứ Anh Giles Lever cho rằng việc Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ban quản lý Đề án ngoại ngữ 2020 là đối tác đồng tổ chức New Directions với Hội đồng Anh phản ánh cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc phát triển và xây dựng một Trung tâm khảo thí năng lực ngoại ngữ quốc gia. Ông cũng khẳng định Vương quốc Anh sẵn sàng hỗ trợ, hợp tác chặt chẽ với Bộ để thiết kế, hình thành và đưa vào hoạt động trung tâm này.

Thanh Tâm

22 April 0 Bình luận
Chuyển giao công tác ISO từ Phòng TCCB-LĐ sang Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng

Thực hiện chỉ đạo của Hiệu trưởng về việc lập kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2016 – 2017 đối với Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng (thông báo sô 446/TB-CĐVH ngày 22 tháng 11 năm 2016), công tác ISO đã được chuyển giao từ Phòng Tổ chức cán bộ – Lao động sang Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng.

Bắt đầu từ tháng 4/2017, chuyên viên phụ trách ISO đã tiếp nhận công việc và nhận bàn giao hồ sơ triển khai công tác quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 từ những ngày đầu hoạt động. Với nỗ lực của nhà trường nhằm nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng và các yêu cầu do các cơ quan quản lý các cấp quy định, trường luôn xem xét, cải tiến để ngày càng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động đào tạo và phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội.

Trong thời gian qua, công tác ISO đã được ban ISO thực hiện tốt, là điển hình tiên tiến để đưa ra học tập tại các cơ quan công tác tại Bộ Thông tin và Truyền thông. Kế thừa những kết quả tốt đẹp ấy, để ngày càng nâng cao hiệu quả áp dụng bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9001: 2008 (chuẩn bị bộ tiêu chuẩn ISO 9001: 2015), Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng nhận định tầm quan trọng của công tác ISO và bắt tay vào chuẩn bị cho định hướng về lâu dài sẽ hướng đến thực hiện ISO điện tử trên toàn hệ thống quản lý của nhà trường.

Bản tin ISO tháng 04/2017

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

20 April 0 Bình luận
CMCN 40

Cho đến nay thế giới đã trải qua 4 cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) từ sự ra đời của đầu máy hơi nước, đến quá trình hình thành, phát triển của các ngành công nghiệp cơ khí và bán tự động; tiếp đó là sự phát triển của ngành năng lượng và ứng dụng năng lượng vào sản xuất và đời sống. Đến nay, cuộc CMCN lần thứ 4 (4.0) sẽ hình thành những công nghệ giúp xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học cả trong đời sống, sản xuất, cũng như trong lĩnh vực giáo dục đào tạo và giáo dục nghề nghiệp (GDNN). Từ những tác động đó, cần có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế sáng tạo và hội nhập…

Những vấn đề đặt ra đối với GDNN

Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thị trường lao động (TTLĐ) sẽ bị thách thức nghiêm trọng giữa chất lượng cung và cầu lao động cũng như cơ cấu lao động. Khi tự động hóa thay thế con người trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, người lao động chắc chắn sẽ phải thích ứng nhanh với sự thay đổi của sản xuất nếu không sẽ bị dư thừa hay thất  nghiệp.

Theo dự báo, trong một số lĩnh vực, với sự xuất hiện của robot, số lượng nhân viên sẽ giảm đi 1/10 so với hiện nay, như vậy, 9/10 nhân lực còn lại sẽ phải chuyển nghề hoặc thất nghiệp. Cuối năm 2015, Ngân hàng Anh Quốc đưa ra dự báo: sẽ có khoảng 95 triệu lao động truyền thống bị mất việc trong vòng 10-20 năm tới… Hàng loạt nghề nghiệp cũ sẽ mất đi, thị trường lao động tại quốc gia này cũng như quốc tế sẽ phân hóa mạnh mẽ giữa nhóm lao động có kỹ năng thấp và nhóm lao động có kỹ năng cao… Đặc biệt, cuộc cách mạng 4.0 không chỉ đe dọa việc làm của những lao động trình độ thấp mà ngay cả lao động có kỹ năng bậc trung (trung cấp, cao đẳng) cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu như họ không được trang bị những kỹ năng mới – kỹ năng sáng tạo cho nền kinh tế 4.0.

Những sự thay đổi này của sản xuất và cơ cấu nhân lực trong TTLĐ tương lai, đặt ra nhiều vấn đề đối với GDNN, đó là:

Thứ nhất, các cơ sở GDNN phải đổi mới mạnh mẽ từ hoạt động đào tạo đến quản trị nhà trường để tạo ra những “sản phẩm”- người lao động tương lai có năng lực làm việc trong môi trường sáng tạo và cạnh tranh… Trong khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến TTLĐ thì các cơ sở GDNN nơi cung cấp nhân lực kỹ thuật chủ yếu cho nền kinh tế, vẫn đào tạo theo cách đã cũ. Học sinh, sinh viên với các kiến thức, kỹ năng đang được dạy trong nhà trường hiện nay còn chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế 3.0 hiện tại, có thể hoàn toàn không hữu dụng với nền kinh tế 4.0 hoặc đang dễ dàng bị robot thay thế trong tương lai gần.

Thứ hai, thay đổi các hoạt động đào tạo, nhất là phương thức và phương pháp đào tạo với sự ứng dụng mạnh mẽ của CNTT. Tuy nhiên, hiện nay các điều kiện đảm bảo cho sự thay đổi này vẫn còn hạn chế. Đa số các các cơ sở GDNN, sự đổi mới phương thức và phương pháp dạy và học còn khá chậm trễ; hạ tầng CNTT còn lạc hậu (ngoại trừ một số cơ sở được đầu tư  thành trường chất lượng cao) và không đồng bộ. Trong một số năm gần đây, trong khuôn khổ của chương trình MTQG, ngành Dạy nghề đã triển khai các hoạt động của dự án ứng dụng CNTT trong quản lý, hoạt động dạy và học nghề. Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dạy nghề được thiết kế, xây dựng cho phép thu thập, xử lý, cập nhật, đồng bộ thông tin dữ liệu về dạy nghề trên toàn quốc và hỗ trợ công tác tìm kiếm, thống kê, báo cáo, phân tích dự báo phục vụ cho công tác điều hành, quản lý về dạy nghề từ Trung ương đến bộ, ngành, địa phương, CSDN trên phạm vi cả nước.  Tuy nhiên, kết quả của dự án còn hạn chế, do mới chỉ đầu tư lắp đặt hạ tầng đồng bộ cho 26 trường CĐN và đang triển khai thí điểm số hóa bài giảng, mô phỏng thực hành nghề để hình thành cơ sở dữ liệu bài giảng điện tử nhằm hiện đại hóa công tác dạy và học nghề…

Thứ ba, đào tạo ảo, mô phỏng, số hóa bài giảng sẽ là xu hướng đào tạo nghề nghiệp trong tương lai. Điều này tác động đến bố trí cán bộ quản lý, phục vụ và đội ngũ giáo viên của các cơ sở GDNN. Đội ngũ này phải được chuyên nghiệp hóa và có khả năng sáng tạo cao, có phương pháp đào tạo hiện đại với sự ứng dụng mạnh mẽ của CNTT và điều này dẫn đến sự thay đổi về quy mô và cơ cấu giáo viên (cả về trình độ và kỹ năng.

Thứ tư,  chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình chỉ đào tạo “những gì thị trường cần” và hướng tới chỉ đào tạo “những gì thị trường sẽ cần”.Theo mô hình mới này, việc gắn kết giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp là yêu cầu được đặt ra; đồng thời, đẩy mạnh việc hình thành các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để chia sẻ các nguồn lực chung: cơ sở vật chất, tài chính, nhân lực, quan trọng hơn là rút ngắn thời gian chuyển giao từ kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên, mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp; giữa đào tạo và sử dụng nhân lực qua đào tạo vẫn còn rất ‘lỏng lẻo, chưa trở thành “trách nhiệm xã hội” của các doanh nghiệp.

Thứ năm, với sự xuất hiện ở những lớp học ảo, nghề ảo, chương trình ảo, và những yêu cầu của TTLĐ với những kỹ năng sáng tạo mới, đòi hỏi có sự quản lý chung để một mặt hướng tới sự đảm bảo “mặt bằng” chất lượng; mặt khác, đáp ứng nhu cầu đa dạng của nền kinh tế sáng tạo và cạnh tranh. Tuy nhiên, điều này cũng đang là vấn đề của công tác quản lý cả ở cấp vĩ mô và cấp cơ sở, khi hệ thống cơ sở pháp lý đang trong quá trình bổ sung, hoàn thiện. Mặt khác, về mặt quản lý, sự chưa đồng bộ và rạch ròi giữa các chức năng QLNN và quản trị nhà trường là những hạn chế, bước đầu được khắc phục.

Một số giải pháp đồng bộ

Từ những vấn đề nêu trên, để nâng cao chất lượng đào tạo nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế sáng tạo, trong lĩnh vực GDNN, trong thời gian tới, chúng ta cần thực hiện những giải pháp sau:

1. Về cơ chế chính sách: Hoàn thiện các cơ chế chính sách, phù hợp với thực tiễn đối với đội ngũ nhà giáo, người học, cơ sở GDNN, người lao động trước khi tham gia TTLĐ, doanh nghiệp tham gia đào tạo, phân bổ và sử dụng tài chính trong lĩnh vực GDNN. Xây dựng các chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng sư phạm ở các cấp trình độ, kỹ năng ứng dụng CNTT trong thiết kế bài giảng. Đổi mới việc tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cũng như chính sách về tiền lương nhằm thu hút người có kiến thức kỹ năng làm nhà giáo GDNN. Tăng cường tình tự chủ trong hoạt động đào tạo và quản trị nhà trường đối với các cơ sơ GDNN, nhằm tạo sự linh hoạt thích ứng với sự thay đổi của KH-CN và yêu cầu của TTLĐ. Các cơ sở GDNN tự chịu trách nhiệm về phát triển theo hướng tinh gọn, năng động, có khả năng làm việc trong môi trường cạnh tranh cao.

2. Quản lý  và  ứng dụng CNTT: hoàn thiện cơ chế, bộ máy quản lý nhà nước về GDNN theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, gắn với trách nhiệm; giảm dần sự can thiệp của các cơ quan chủ quản vào các hoạt động đào tạo và quản trị nhà trường; chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa đội ngũ quản lý GDNN ở các cấp, nhất là ở cấp địa phương.

Ứng dụng mạnh mẽ CNTT trong công tác quản lý GDNN; đổi mới cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về GDNN; xây dựng trung tâm tích hợp dữ liệu; trung tâm quản lý, điều hành tổng thể về GDNN; đầu tư các thiết bị, hệ thống thông tin quản lý; ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý dạy và học. Xây dựng thư viện điện tử, hệ thống đào tạo trực tuyến; khuyến khích các cơ sở  hình thành phòng học đa phương tiện, phòng chuyên môn hóa; hệ thống thiết bị ảo mô phỏng, thiết bị thực tế ảo, thiết bị dạy học thuật và các phần mềm ảo mô phỏng…

3. Đổi mới hoạt động đào tạo: Sẽ không còn khái niệm đào tạo theo niên chế, chương trình phải được thiết kế linh hoạt, đáp ứng chuẩn đầu ra của nghề và tạo sự liên thông giữa các trình độ trong một nghề và giữa các nghề. Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu ứng dụng công nghệ, phương tiện dạy học cũng như công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý đào tạo. Chú trọng các nghiên cứu mô phỏng, nghiên cứu tương tác người – máy. Hình thành mạng lưới nghiên cứu khoa học GDNN giữa các Viện, trường trong nước với các Viện, trường nước ngoài ở các nước tiên tiến như Cộng hòa Liên bang Đức, Hàn Quốc và các nước trong ASEAN và Châu Á khác…

4. Nâng cao năng lực, chất lượng giáo viên: đội ngũ giáo viên phải có năng lực sáng tạo với những phẩm chất mới trên cơ sở chuẩn hóa, thông qua các hoạt động đào tạo, tự đào tạo và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề, kỹ năng sư phạm và những kỹ năng mềm cần thiết khác. Chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng nghề trên cơ sở chuẩn nhà giáo GDNN.

Đối với đội ngũ cán bộ quản lý phải có đủ năng lực làm việc trong môi trường sáng tạo cao và tự chịu trách nhiệm. Do vậy, cần tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cả trong nước và ngoài nước để đáp ứng được yêu cầu công việc, có cơ chế sàng lọc để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác.

5. Phát triển đào tạo tại doanh nghiệp: trong môi trường 4.0, các hoạt động đào tạo cần phải được gắn kết với doanh nghiệp nhằm rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo, nghiên cứu và triển khai. Đẩy mạnh phát triển đào tạo tại doanh nghiệp, phát triển các trường trong doanh nghiệp để đào tạo nhân lực phù hợp với công nghệ và tổ chức của doanh nghiệp. Tăng cường việc gắn kết giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp, trên cơ sở trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hướng tới doanh nghiệp thực sự là “cánh tay nối dài” trong hoạt động đào tạo của cơ sở GDNN, nhằm sử dụng có hiệu quả trang thiết bị và công nghệ của doanh nghiệp phục vụ cho công tác đào tạo, hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học trong quá trình đào tạo và thực tập tại doanh nghiệp.

 6.Tăng cường hợp tác quốc tế: các hoạt động hợp tác đa phương, song phương trong các lĩnh vực của GDNN như nghiên cứu khoa học, trao đổi học thuật; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý; quản trị nhà trường cần được đẩy mạnh… Tạo điều kiện thuận lợi về môi trường pháp lý và xã hội để các nhà đầu tư nước ngoài mở cơ sở GDNN chất lượng cao tại Việt Nam; thực hiện liên kết, hợp tác tổ chức đào tạo nghề nghiệp. Đặc biệt, trong môi trường 4.0, phương pháp đào tạo cần phải thay đổi căn bản trên cơ sở lấy người học làm trung tâm và ứng dụng CNTT trong thiết kế bài giảng và truyền đạt bài giảng. Cùng với đó là sự đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra trong GDNN theo hướng đáp ứng năng lực làm việc và tính sáng tạo của người học.

TS. Nguyễn Hồng Minh – Tổng Cục trưởng Tổng cục Dạy nghề

Nguồn: website của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội

19 April 0 Bình luận

Theme Settings