Tin tức

QT CDR GDNN

(TQA) Chuẩn đầu ra là thuật ngữ quen thuộc đối với giáo dục đại học nhưng dường như còn rất mới đối với giáo dục nghề nghiệp trên bình diện lý luận và thực tiễn đào tạo tại Việt Nam. Bài viết trình bày khung khái niệm, từ đó đề xuất một quy trình xây dựng chuẩn đầu ra GDNN trong bối cảnh của Việt Nam vừa mới ban hành khung trình độ quốc gia và ASEAN đã có Khung Tham chiếu trình độ khu vực.

Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của TS Nguyễn Quang Việt , bài viết đã được đăng trên Tạp chí Khoa học Dạy nghề số 40+41 tháng 01/2017

 

  1. Đặt vấn đề

 

Tại Việt Nam, hiện nay mới chỉ có các cơ sở giáo dục đại học xây dựng và tuyên bố chuẩn đầu ra như là sự cam kết của nhà trường về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hành vi sinh viên phải đạt được và vị trí công tác sinh viên có thể đảm nhận khi tốt nghiệp ở một ngành đào tạo hoặc ở một chương trình đào tạo. Tuy nhiên, việc xây dựng chuẩn đầu ra cho các ngành đào tạo đại học thực hiện trong bối cảnh Việt Nam chưa có khung trình độ quốc gia (KTĐQG) và cũng chưa xác định rõ cách thức và các điều kiện bảo đảm triển khai thực hiện. Về bản chất, các chuẩn đầu ra dường như là “kỳ vọng” mà chưa thật sự là “cam kết” như cách tuyên bố của các trường. Mặt khác, không thể cùng đào tạo một ngành/chuyên ngành mỗi trường lại có chuẩn đầu ra khác nhau. Trong khi đó, giáo dục nghề nghiệp (GDNN) chưa thực sự tiếp cận chuẩn đầu ra. Vậy tại sao phải xây dựng chuẩn đầu ra? Cơ sở xây dựng chuẩn đầu ra GDNN là gì và theo quy trình, phương pháp nào?

 

  1. Khung khái niệm

 

Trên thế giới hiện nay, chuẩn đầu ra (learning outcomes) được sử dụng ngày càng phổ biến trong việc phát triển các khung trình độ và hệ thống trình độ quốc gia, chương trình đào tạo, tiêu chuẩn nghề, hướng nghiệp và tư vấn nghề. Mục đích chính sử dụng chuẩn đầu ra nhằm gắn kết tốt hơn giáo dục đào tạo với thị trường lao động và việc làm (tiêu chuẩn nghề, hồ sơ nghề nghiệp), đem đến nhiều cơ hội hơn để công nhận thành quả học tập của các trình độ ngoài chính quy, tạo sự linh hoạt và trách nhiệm hơn đối với hệ thống giáo dục và đào tạo (Mike Coles and Andrea Bateman, 2015). Khung Tham chiếu Trình độ ASEAN (AQRF) đã sử dụng chuẩn đầu ra như một cách tiếp cận đơn nhất để các nước thành viên có thể tham chiếu trình độ trong nội khối ASEAN.

Một số định nghĩa về chuẩn đầu ra:

 

– Sự khẳng định của những điều kỳ vọng, mong muốn một người tốt nghiệp có khả năng LÀM được nhờ kết quả của quá trình đào tạo (Jenkins and Unwin, 2001).

– Lời khẳng định của những điều mà chúng ta muốn sinh viên của chúng ta có khả năng làm, biết, hoặc hiểu nhờ hoàn thành một khóa đào tạo (Đại học New South Wales, Úc).

– Toàn bộ thông tin, kiến thức, sự hiểu biết, giá trị, kỹ năng, năng lực hoặc hành vi đòi hỏi một người làm chủ được nhờ vào việc hoàn thành một chương trình giáo dục (UNESCO, 2011).

Một cách phổ biến trên thế giới hiện nay (và cũng được ASEAN sử dụng khi xây dựng AQRF), chuẩn đầu ra là một bản diễn giải rõ ràng về những thứ mà người học kỳ vọng được biết, hiểu và/ hoặc làm như là kết quả của một quá trình học tập.

Khái niệm chuẩn đầu ra dường như đều được định nghĩa một cách đơn giản, song tùy vào bối cảnh và/hoặc góc độ khác nhau việc sử dụng chuẩn đầu ra lại có những hình thái biểu đạt theo mục đích cụ thể (Mike Coles and Andrea Bateman, 2015). Chẳng hạn:

– Trong tiêu chuẩn nghề nghiệp: Để xác định các công việc và mong đợi của nghề. Là cơ sở xác định thực hành công việc, đào tạo thường xuyên, tuyển dụng, hệ thống đánh giá năng lực hành nghề, đối thoại xã hội. Tiêu chuẩn nghề nghiệp cũng được sử dụng để định nghĩa các trình độ GDNN.

– Trong chương trình đào tạo: Để xác định kết quả mong đợi của mỗi hoạt động học tập. Hướng dẫn giáo viên trong quá trình dạy học, lựa chọn phương pháp,… Thông tin đến người học họ được yêu cầu khả năng làm được, hiểu biết gì sau một hoạt động học.

– Trong tiêu chí đánh giá: Để xác định những gì cần đánh giá và bảo đảm rằng chuẩn đầu ra (một trình độ hoặc một hoạt động học tập/mô đun) đã được đáp ứng. Tạo sự đồng nhất trong việc đánh giá năng lực người học.

– Trong hệ thống các văn bằng trình độ: Để xác định mong đợi chung đối với một người sở hữu văn bằng. Thông tin đến bên sử dụng lao động khi tuyển dụng một người sở hữu văn bằng. Thông tin đến người học trong giai đoạn định hướng nghề nghiệp, và do đó cũng dùng cho người làm hướng nghiệp.

– Trong khung trình độ: Để xác định mức độ học tập và phân loại các hình thức và loại trình độ trong khung theo các bậc trong một quốc gia. Tăng sự hiểu biết giữa các nước về các bậc trình độ quốc gia.

Chuẩn đầu ra GDNN

Chuẩn đầu ra tương ứng với mỗi trình độ GDNN là sự công khai hóa các tiêu chí, tiêu chuẩn nhằm bảo đảm và khẳng định về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cả về kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và trách nhiệm, vị trí và khả năng đảm đương công việc của sinh viên tốt nghiệp. Chuẩn đầu ra là cơ sở để xây dựng chương trình, thiết kế nội dung và tổ chức các hoạt động đào tạo và cam kết về chất lượng đầu ra của quá trình đào tạo đó. Chuẩn đầu ra chung (xác định chất lượng kết quả đào tạo ở mức cần thiết chung) được ban hành sẽ tạo khung tiêu chuẩn thiết yếu giúp cho các cơ sở GDNN xây dựng chuẩn đầu ra cho từng môn học, mô đun hoặc cho các chuyên ngành chuyên sâu, đặc thù. Việc xây dựng chuẩn đầu ra cũng làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên, đặc biệt là xác định và đánh giá những gì sinh viên thể hiện được.

Xây dựng chuẩn đầu ra còn giúp cho việc tổ chức, thiết kế toàn bộ trình độ GDNN, bảo đảm tính thống nhất và sự liên thông giữa các bậc đào tạo từ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học. Đồng thời, chuẩn đầu ra còn làm cơ sở đánh giá và chứng nhận chất lượng đào tạo của các cơ sở GDNN.

Có thể nói, chuẩn đầu ra GDNN là yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, trách nhiệm nghề nghiệp và những phẩm chất khác mà người học cần phải đạt được sau khi hoàn thành chương trình đào tạo ở mỗi cấp trình độ, mỗi ngành, nghề đào tạo; được cơ sở GDNN cam kết với người học, xã hội và công bố công khai cùng với các điều kiện đảm bảo thực hiện.

  1. Quy trình và phương pháp xây dựng chuẩn đầu ra các trình độ GDNN

 

Chuẩn đầu ra các trình độ GDNN được xây dựng dựa trên căn cứ: mô tả trình độ của khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia và tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; mô tả bậc trình độ trong KTĐQG và quy định mục tiêu đối với từng trình độ theo Luật Giáo dục nghề nghiệp. Trong quá trình nghiên cứu thí điểm xây dựng chuẩn đầu ra các trình độ trung cấp và cao đẳng Quản trị khách sạn và Công nghệ thông tin chúng tôi đề xuất quy trình ba bước căn bản như sau (Hình 1).

Hình 1: Quy trình xây dựng chuẩn đầu ra các trình độ giáo dục nghề nghiệp

 

 

 

Bước 1: Xác định phạm vi, vị trí việc làm trong nghề tương ứng với trình độ đào tạo

 

Phạm vi và vị trí việc làm trong nghề dựa trên chủ yếu là tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đã ban hành, đặc biệt là nội dung mô tả nghề. Mặc dù chưa đối sánh bậc trình độ kỹ năng nghề quốc gia với bậc trong KTĐQG song dựa trên mô tả trình độ có thể thấy đầu ra cao đẳng hướng đến bậc 3, trung cấp hướng đến bậc 2 khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia. Đồng thời, dựa trên mục tiêu chung của GDNN, mục tiêu cụ thể đối với trình độ trung cấp và cao đẳng kết hợp với mô tả chuẩn đầu ra bậc 4 (trung cấp) và bậc 5 (cao đẳng) của KTĐQG để định vị đầu ra phạm vi và vị trí việc làm trong nghề của mỗi trình độ. Các chương trình đào tạo liên quan đã có cũng cần được tham khảo để tìm ra những điểm chung và khác biệt giữa trình độ trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề, giữa cao đẳng và cao đẳng nghề, và giữa các trình độ trên với hai trình độ GDNN hiện hành.

Bước 2: Xác định đầu ra kiến thức, kỹ năng, thái độ, mức độ tự chủ và trách nhiệm chung cho trình độ đào tạo

 

Tiếp cận chuẩn đầu ra có nghĩa rằng việc thiết kế chương trình, nội dung, tổ chức, đánh giá dựa trên phân tích kiến thức, kỹ năng, thái độ và định hướng giá trị mà cả sinh viên và xã hội đều cần. Như thế, khả năng thể hiện học tập là điểm cốt yếu (Declan Kennedy và cộng sự, 2006). Theo đó, những câu hỏi chuẩn đầu ra phải giải quyết bao gồm:

Ø Những kiến thức, kỹ năng, thái độ và định hướng giá trị mà một sinh viên  tốt nghiệp chương trình của chúng ta sẽ thể hiện?

Ø Họ sẽ có khả năng thể hiện như thế nào?

Ø Chương trình của chúng ta chuẩn bị tốt thế nào cho sinh viên về nghề nghiệp, tốt nghiệp, nghiên cứu chuyên nghiệp hoặc học tập suốt đời?

Ø Chúng ta sẽ sử dụng những đánh giá nào để chứng thực sự tăng tiến kiến thức, kỹ năng, thái độ và định hướng giá trị của sinh viên trong tiến trình học tập?

Tổ hợp yêu cầu đầu ra phạm vi và các vị trí việc làm trong nghề để xác định điểm đặc trưng, diện và chiều sâu của mỗi trình độ đào tạo về kiến thức, kỹ năng, thái độ, mức độ tự chủ và trách nhiệm. Chuẩn đầu ra theo KTĐQG bao gồm kiến thức thực tế và kiến thức lý thuyết; kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp và kỹ năng giao tiếp, ứng xử; mức độ tự chủ và trách nhiệm cá nhân trong việc áp dụng kiến thức, kỹ năng để thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn.

 

Bước 3: Biên soạn chuẩn đầu ra trình độ đào tạo theo mẫu định dạng

 

Đặc điểm của chuẩn đầu ra tốt, đó là:

– Xác định mức độ, tiêu chí hoặc tiêu chuẩn kiến thức, kỹ năng, khả năng hoặc định hướng giá trị mà sinh viên phải thể hiện;

– Bao hàm các điều kiện để sinh viên có khả năng thể hiện kiến thức, kỹ năng, khả năng hoặc thiên hướng;

– Chứa các động từ thể chủ động;

– Đo lường được;

– Diễn đạt đầu ra lượng hóa được bởi không chỉ một phương pháp đánh giá;

– Viết sao cho không ôm đồm các thành phần của một kết quả đầu ra làm cho không thể đánh giá được bằng một phương pháp.

Cấu trúc chuẩn đầu ra của một ngành nghề đào tạo ở mỗi trình độ bao gồm các nội dung chính như sau:

  1. a) Tên ngành nghề đào tạo: tiếng Việt và tiếng Anh;
  2. b) Trình độ đào tạo: trung cấp hoặc cao đẳng;
  3. c) Kiến thức: kiến thức lý thuyết, kiến thức thực tế.
  4. d) Kỹ năng:

– Kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng giải quyết vấn đề.

– Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng ngoại ngữ, tin học,…

  1. e) Yêu cầu về thái độ, định hướng giá trị

– Phẩm chất đạo đức, ý thức và tác phong nghề nghiệp, thái độ phục vụ, trách nhiệm công dân;

– Thiên hướng phát triển nghề nghiệp;

  1. f) Kiến thức pháp luật, chính trị, quốc phòng… (theo quy định chung).
  2. g) Vị trí việc làm người học sau khi tốt nghiệp có thể đảm đương.
  3. h) Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi ra trường.

Chuẩn đầu ra cung cấp những đặc trưng cần thiết cho phép sinh viên biết đó là những thứ họ sẽ học, và để đạt mức độ đặc trưng đó thông thường cần lặp lại quá trình trên nhiều lần. Chẳng hạn, trong khi phân tích yêu cầu kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ trách nhiệm cụ thể theo chức năng vị trí việc làm sẽ quay lại điều chỉnh đầu ra kiến thức, kỹ năng, thái độ, mức độ tự chủ trách nhiệm chung cho trình độ đào tạo, hoặc điều chỉnh phạm vi, diện và chiều sâu của trình độ đào tạo. Tất cả các bước trong quy trình đều phải tham vấn chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực ngành nghề đào tạo, đặc biệt là đại diện bên sử dụng lao động và doanh nghiệp.

Trong thời gian tới, theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, nhà trường sẽ tự chủ về chương trình đào tạo. Xây dựng các chương trình đào tạo theo năng lực hành nghề dựa trên các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, hoặc xác định chuẩn đầu ra theo ngành nghề và vị trí việc làm ứng với từng trình độ. Với định hướng phát triển các chương trình tiếp cận chuẩn khu vực ASEAN và quốc tế thì KTĐQG và Khung tham chiếu trình độ ASEAN cần được tiếp cận, nghiên cứu và ứng dụng ở tất cả các khâu đào tạo bao gồm đầu vào, quá trình và đánh giá để bảo đảm chuẩn đầu ra theo cam kết của nhà trường với người học, người sử dụng lao động, nhà nước và toàn xã hội./.

  1. Nguyễn Quang Việt

Bài viết đã được đăng trên Tạp chí Khoa học Dạy nghề số 40+41 tháng 01/2017

16 April 0 Bình luận
GSLam_Quang_Thiep

(TQA) Hội đồng trường là một tiêu chí của Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục. Tuy nhiên hiện nay có rất nhiều trường chưa thành lập. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết gửi tới Báo điện tử Giáo dục Việt Nam của giáo sư Lâm Quang Thiệp – nguyên Vụ trưởng Vụ giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) đề xuất giải pháp để xây dựng thành công thể chế hội đồng trường trong hệ thống giáo dục đại học nước ta. 

 

Thứ nhất, xử lý quan hệ giữa cơ chế hội đồng trường và bộ chủ quản 

Bộ chủ quản của các trường đại học công lập dưới thời kế hoạch hóa tập trung có quyền quyết định mọi vấn đề của trường đại học, còn cơ quan điều hành trường đại học phải thực hiện mọi việc theo quyết định “từ trên”. 

Trong quá trình đổi mới giáo dục đại học, cơ chế quản lý đó cũng được cải tiến dần, trường đại học được dần dần giao quyền tự chủ về nhiều mặt.

Tuy nhiên, cho đến nay, hai lĩnh vực quyết định quan trọng nhất trong hoạt động của trường đại học trực thuộc phần lớn vẫn nằm trong tay bộ chủ quản, đó là tài chính và nhân sự.  

GSLam_Quang_Thiep
Giáo sư Lâm Quang Thiệp đề xuất giải pháp xây dựng Hội đồng trường (Ảnh: Thùy Linh)

 

Cụ thể là, kinh phí hàng năm cho các trường đại học do Bộ chủ quản phân phối sau khi Bộ nhận từ ngân sách nhà nước, các nhân sự quan trọng nhất của trường đại học, trong đó có hiệu trưởng, hiệu phó, do bộ chủ quản bổ nhiệm và miễn niệm. 

Bộ chủ quản có cơ chế kiểm soát trường trực thuộc về nhiều mặt, và trường trực thuộc có trách nhiệm báo cáo việc thực hiện công việc với Bộ chủ quản. 

Trường đại học không có quyền tự quyết định đối với nhiều vấn đề, điều đó làm cho sự đáp ứng đối với các biến động của thị trường thường không được nhanh nhạy, các trường khó thích nghi với thị trường.   

Nhận thấy sự cản trở đó của cơ chế bộ chủ quản, trong Nghị quyết 14 năm 2005 của Chính phủ về đổi mới giáo dục đại học (Nghị quyết 14, 2005)[1] đã ghi chủ trương “Xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, xây dựng cơ chế đại diện sở hữu nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập”. 
Có thể thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa chủ trương xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản của Nghị quyết 14 với việc đưa cơ chế hội đồng trường vào trường đại học theo Điều lệ trường đại học năm 2003 và Luật Giáo dục năm 2005.  

Các chủ trương nói trên của Nhà nước có thể hiểu là xuất phát từ quan niệm trường đại học công lập thuộc sở hữu công, quyền sở hữu đó được giao cho đại diện của nó là hội đồng trường chứ không phải cho một cá nhân hiệu trưởng. 

Hội đồng trường xác định rõ các chính sách của nhà trường, lựa chọn một hiệu trưởng xứng đáng để giao quyền điều hành, và theo dõi, kiểm tra đánh giá việc sử dụng quyền được giao đó.  

Như vậy, nếu thực hiện đầy đủ cơ chế hội đồng trường, xác định đúng vai trò của hội đồng trường thì không cần đến cơ chế Bộ chủ quản và trường trực thuộc.  

Mặt khác, hội đồng trường chỉ có thể phát huy vai trò của mình đầy đủ và hoạt động có hiệu quả cao khi cơ chế Bộ chủ quản được hoàn toàn xóa bỏ.

Thứ hai, cần sự quyết tâm của giới lãnh đạo, quản lý và sự đồng thuận trong cộng đồng giáo dục đại học. 

Điều lệ trường đại học năm 2010 đã đưa ra khá đầy đủ những quy định để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của hội đồng trường. 

Tuy nhiên cho đến nay việc triển khai xây dựng thể chế hội đồng trường trong các các trường đại học vẫn hết sức chậm chạp, sự đồng thuận trong việc đưa thể chế này vào hệ thống giáo dục đại học vẫn chưa cao. 

Có thể thấy nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này ở chỗ đây là một chủ trương tạo nên sự di chuyển về quyền lực, không phải bộ phận nào trong hệ thống giáo dục đại học cũng dễ dàng chấp nhận và thích nghi được với sự dịch chuyển ấy nên có phản ứng không thuận lợi ở nhiều cấp độ khác nhau.  

Các phản ứng này có thể liên quan đến lý do về nhận thức, cũng có thể gắn với lợi ích nhóm.  

Ở cấp trường đại học nhiều ý kiến cho rằng các hiệu trưởng đại học không ai thích đưa vào một cơ chế hạn chế quyền lực của họ. 

Tuy nhiên, nếu nhìn từ một góc độ khác thì không hẳn như vậy. 

Một hiệu trưởng đại học trao đổi với chúng tôi: Hội đồng trường tạo cho hiệu trưởng cảm giác “an toàn” hơn nhiều khi điều hành, vì khi nhà trường phải đối mặt với các quyết định lớn quan trọng trong công việc, có thể gây phản ứng của nhiều đối tượng khác nhau, thì hội đồng trường là chỗ dựa vững chắc cho hiệu trưởng. 

Chính vì vậy người ta thường nói hội đồng trường là chiếc đệm chắn giảm xung cho hiệu trưởng. Và kết quả là hội đồng trường giúp hiệu trưởng làm được những việc lớn hơn, có ý nghĩa hơn cho nhà trường và xã hội.  

Ở các cơ quan quản lý nhà nước, một số người, đặc biệt những cán bộ có năng lực, cho rằng nếu tăng cường việc giao quyền tự chủ cho trường đại học qua hội đồng trường thì cán bộ ở các cơ quan này sẽ có nhiều thời gian vào những công việc có chất lượng liên quan đến quản lý nhà nước, có điều kiện nâng cao trình độ, chứ không phải đi sâu vào những việc sự vụ của các trường đại học. 

Cơ chế “xin cho” sẽ giảm, điều đó sẽ giảm áp lực đối với một số đông cán bộ ở cơ quan quản lý nhà nước (hiển nhiên một số ít người khác sẽ không vui).  

Còn từ những người lãnh đạo cao cấp, tôi đã từng nghe một vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tâm sự: Ở cương vị lãnh đạo một ngành ông ta rất mong muốn có một cơ chế nào đó để có thể thật sự yên tâm khi giao quyền tự chủ rộng rãi cho trường đại học. 

Rõ ràng vị Bộ trưởng này có thể tìm thấy cơ chế đó ở hội đồng trường, vì nếu xây dựng thật tốt các hội đồng trường thì các hội đồng này có thể đảm bảo cho các các trường đại học hoạt động lành mạnh, Bộ trưởng đỡ phải lo lắng. 

Một vấn đề cũng được nhiều người đặt ra khi bàn về chủ đề hội đồng trường ở trường đại học. Đó là, một khi đã nói Đảng lãnh đạo toàn diện thì không cần thiết có hội đồng trường, vì sự lãnh đạo của hội đồng trường sẽ chồng chéo với sự lãnh đạo của Đảng ủy. 

Trong một hội thảo tôi được nghe phân tích của một cán bộ cao cấp chuyên nghiệp của Đảng như sau. Đảng lãnh đạo dựa vào hệ thống giá trị mà Đảng theo đuổi chứ không phải dựa vào sự áp đặt bằng quyền lực. Hội đồng trường là một thực thể quyền lực. 

Sự lãnh đạo của Đảng ủy sẽ hỗ trợ những quyết định đúng đắn của hội đồng trường và ngăn chặn những quyết định không đúng đắn, do đó sẽ tạo sự đồng thuận trong nhà trường để nhà trường phát triển tốt. 

Nếu Đảng ủy dùng quyền lực của mình khi lãnh đạo ở trường đại học thì sẽ dễ bị thoái hóa. Chính trong thời kỳ hoạt động bí mật uy tín và hiệu quả lãnh đạo của Đảng rất cao vì phong cách lãnh đạo dựa vào hệ thống giá trị nói trên chứ không dựa vào quyền lực.  

Thứ ba, cần đưa ra một lộ trình hợp lý để xây dựng cơ chế hội đồng trường trong các trường đại học. 

Một điều cần lưu ý là trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam thể chế hội đồng trường là rất mới, do đó để xác lập được thể chế hội đồng trường trong các trường đại học Việt Nam Nhà nước cần đưa ra một lộ trình hợp lý.

– Trước hết cần rà soát hệ thống các văn bản luật và dưới luật có liên quan với hội đồng trường và có phương án chỉnh sửa những quy định không tương thích.

– Hội đồng trường không nên được triển khai nhất loạt mà nên được xây dựng trước ở các cơ sở giáo dục đại học được quyền tự chủ cao, đặc biệt là các trường đại học trọng điểm. 

Nhà nước nên chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học này lập kế hoạch xây dựng hội đồng trường. Sau một thời gian triển khai nên tổ chức rút kinh nghiệm để phổ biến cho các trường khác. 

– Những quan niệm chung về hội đồng trường và thể thức hoạt động của hội đồng trường còn rất mới mẻ đối với cả cộng đồng giáo chức và nhân viên trong cơ sở giáo dục đại học, kể cả các thành viên của hội đồng trường. 

Do đó để có thể đảm bảo hoạt động của hội đồng trường có hiệu quả phải phổ biến sâu rộng về thể chế này trong cộng đồng nhà trường, đồng thời phải tổ chức các khóa tập huấn cho các thành viên hội đồng trường, kể cả chủ tịch hội đồng. 

Tài liệu tham khảo: 

[1] Nghị quyết của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020, số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005. 

Giáo sư Lâm Quang Thiệp

 

 

16 April 0 Bình luận
CD Can Tho

(TQA)-Nữ giảng viên đem hơn 50 bài kiểm tra hết học phần của sinh viên về nhà để chấm thì bị kẻ gian lấy mất. Đây là bài học cho các giảng viên khi chấm thi. Vì vậy TTKTĐBCL kính mong quý thầy cô chấm thi tại văn phòng khoa để tránh trường hợp mất bài kiểm tra, bài thi của sinh viên.

Sáng hôm nay, trao đổi với VietNamNet, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cần Thơ Trần Thanh Liêm xác nhận vụ việc trên. Theo thầy Liêm, đây bài kiểm tra kết thúc học phần của sinh viên.

Theo đó, ngày 8/3, sau khi nhận 53 kiểm tra học phần đã rọc phách của lớp Cao đẳng Mầm non khóa 41, cô Võ Nữ Thu Hằng, người được phân công chấm bài đã để xấp bài thi vào cốp xe rồi cùng một số giảng viên khác đến siêu thị mua sắm.

 

Tuy nhiên, khi cô Hằng xuống nhà giữ xe để lấy xe ra về thì phát hiện cốp xe bị cạy, toàn bộ số bài kiểm tra trên đã bị kẻ gian lấy mất.

Vụ việc được phía siêu thị lập biên bản, cô Hằng cũng trình báo với Phòng Đào tạo và Ban giám hiệu Trường Cao đẳng Cần Thơ. Đại diện lãnh đạo Phòng Đào tạo và cô Hằng đã có buổi gặp gỡ với các sinh viên bị mất bài kiểm tra để thông báo và xin lỗi về vụ việc.

Đến ngày 7/4, các sinh viên đã cho sinh viên bị mất bài kiểm tra được nhà trường tổ chức cho làm bài lại cùng với các sinh viên khóa 39.

Trước khi đó, các em được giáo viên ôn tập lại một buổi. “Hiện chúng tôi đang tiến hành họp để xử lý những cá nhân có liên quan. Còn sinh viên cũng tự nguyện làm bài kiểm tra lại”, ông Liêm cho biết.

 (Theo H.Thanh- VietNamNet)

14 April 0 Bình luận
cv-tieng-anh-1

Sau hơn 3 tuần thi đấu sôi nỗi, đoàn kết, hấp dẫn. Chiều ngày 08/12/2016 tại sân tầng 3 trung tâm sinh viên, đã diễn ra Lễ bế mạc giải Hội Thao các lớp GDTC tự chọnlần thứ 8 năm 2016, hướng tới chào mừng 10 năm ngày thành lập trường Cao Đẳng CNTT Hữu Nghị Việt – Hàn.

Read More

Đến dự lễ bế mạc có thầy Võ Duy Thanh – Phó bí thư đảng ủy – Phó hiệu trưởng nhà trường. Thầy Hoàng Đình An – Phó phòng chính trị CTSV. Cô Dương Thị Phượng – Trưởng ban tổ chức giải cùng các thầy cô trong khoa cơ bản cũng đến tham dự cổ vũ.

Mùa giải năm nay có 7 đội bóng đá nam, 2 đội bóng đá nữ, 4 đội bóng chuyền nam, 3 đội bóng chuyền nữ, trên 40 VĐV điền kinh và trên 50 VĐV cầu lông đến từ các khóa 8, khóa 9 và khóa 10 của trường Cao Đẳng CNTT Hữu Nghị Việt – Hàn. Trải qua những trận đấu hấp dẫn và gay cấn, chiều ngày 8/12/2016 đã diễn ra trận bóng đá nam cuối cùng của giải giữa 2 đội (đội 1) khóa 9 gặp (đội 2) khóa 9, các VĐV đã thể hiện hết mình vì màu cờ sắc áo của đội, cống hiến cho người xem nhiều pha bóng đẹp, trận đấu kết thúc với tỷ số 2 – 0 nghiêng về đội 1 khóa 9.

Bế mạc giải, ban tổ chức đã tiến hành trao huy chương, cúp cho các cá nhân và tập thể đội đoạt giải.

Giải Hội Thao các lớp GDTC tự chọn sinh viên trường Cao Đẳng CNTT Hữu Nghị Việt – Hàn lần thứ 8 năm 2016 là hoạt động được tổ chức thường niên mỗi năm một lần. Đây là hoạt động thiết thực nhằm duy trì, đẩy mạnh phong trào rèn luyện thể dục thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại, duy trì khích lệ tinh thần tập luyện, thi đấu thể thao trong sinh viên, góp phần nâng cao thể lực, giáo dục nhân cách cho sinh viên, tăng cường giao lưu học hỏi giữa các lớp với nhau.

Một số hình ảnh trao giải thưởng lễ bế mạc giải.

hoi thao (1)

hoi thao (1)

Màn đồng diễn văn nghệ chào mừng hội thao

hoi thao (1)

hoi thao (1)

Thầy Võ Duy Thanh, phó hiệu trưởng nhà trường, trao thưởng cho đội nhất bóng chuyền nữ khóa 10, đội nhất bóng đá nam khóa 8

hoi thao (1)

Thầy Võ Duy Thanh, phó hiệu trưởng trao thưởng nhất, nhì ba cự ly 100m nam

hoi thao (1)

Thầy Nguyễn Kim Cường, bí thư đoàn trường trao thưởng cho đội nhất bóng chuyền nam khóa 8

hoi thao (1)

Thầy Nguyễn Kim Cường, bí thư đoàn trường trao thưởng nhất, nhì ba cự ly 100m nữ

hoi thao (1)

Cô Dương Thị Phượng, trưởng BTC trao thưởng nhất, nhì, ba đôi nam cầu lông

hoi thao (1)

Cô Dương Thị Phượng, trưởng BTC trao thưởng đội nhì bóng đá nam khóa 9

hoi thao (1)

Thầy Hoàng Đình An, phó phòng chính trị CTSV trao thưởng đội nhì bóng chuyền nam khóa 10

hoi thao (1)

Thầy Hoàng Đình An, phó phòng chính trị CTSV trao thưởng nhất, nhì, ba đơn nữ cầu lông

hoi thao (1)

Thầy Hoàng Trọng Dũng, phó BTC trao thưởng nhất, nhì, ba đôi nam nữ cầu lông

hoi thao (1)

Thầy Nguyễn Trọng Minh trao thưởng đội ba bóng đá nam khóa 10

hoi thao (1)

Thầy Nguyễn Ngọc Huy trao thưởng cho đội nhì bóng chuyền nam khóa 9

hoi thao (1)

Các thầy cô đã trao giải thưởng cho các em đạt thành tích cao nhất HỘI THAO TRUYỀN THỐNG GDTC LẦN THỨ 8 NĂM 2016, giải kết thúc thành công tốt đẹp.

Tin: Nguyễn Văn Thắng

 Khoa cơ bản

12 December 0 Bình luận

Theme Settings